X

Tính chỉ số BMI

Chiều cao: cm

Cân nặng : kg

Tính

Hiếm Muộn

HIẾM MUỘN- BỆNH VIỆN NỤ CƯỜI

By on 23/10/2017

dieu-tri-vo-sinh-bom-tinh-trung-1

ICSI – CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ SINH SẢN

By on 28/10/2016

Lần đầu tiên vào năm 1959, Chang thành công khi thực hiện tụ tinh nhân tạo giữa trứng và tinh trùng thỏ trong môi trường ống nghiệm; từ đó tới nay, các nhà khoa học không ngừng nghiên cứu tìm kiếm những phương pháp mới cho việc điều trị vô sinh ở người.

IVF và ICSI là những kỹ thuật nhằm làm tăng tỷ lệ thụ tinh trong điều trị hiếm muộn đã được báo cáo thành công trên thế giới từ những năm 1978 và 1992, cho tới nay đã có hơn một triệu em bé ra đời từ những kỹ thuật trên. (bơm tinh trùng, thụ tinh ống nghiệm, vô sinh, khám hiến muộn ở đâu)

ICSI (Intra-Cytoplasmic Sperm Injection) – Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng – là phương pháp mang lại hiệu quả thụ tinh cao với tỷ lệ 60 –  85%. Khác với IVF (In Vitro Fertilization) nghĩa là thụ tinh trong ống nghiệm, thay vì cấy trứng với hàng trăm tinh trùng tinh trùng, thì ICSI chỉ với một tinh trùng duy nhất được tiêm trực tiếp vào trứng, và tinh   trùng được chọn lựa là tinh trùng tốt nhất về mặt hình thái cũng như khả năng di động.
(bơm tinh trùng, IVF, vô sinh, khám hiếm muộn ở đâu, khám vô sinh)
dieu-tri-vo-sinh-bom-tinh-trung
Từ khi ra đời, ICSI đã mang lại niềm hy vọng và cơ hội lớn lao cho các cặp vợ chồng hiếm muộn mà nguyên nhân vô sinh như không xuất tinh được, thiểu năng tinh trùng, kháng thể kháng tinh trùng, hoặc trường hợp trứng ít, chất lượng kém, hay do trứng và tinh trùng không kết hợp được với nhau dù cho người chồng có tinh dịch đồ bình thường mà kỹ thuật IVF không mang lại kết quả. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy không có sự khác biệt nào về chất lượng phôi cũng như tỷ lệ có thai sau chuyển phôi giữa những chu kỳ hỗ trợ sinh sản thực hiện ICSI và không ICSI. Ngày nay, ICSI chiếm tỷ lệ cao trong các chu kỳ hỗ trợ sinh sản ở các trung tâm trên thế giới, và đang thay thế dần kỹ thuật IVF. (thụ tinh trong ống nghiệm, khám vô sinh, vô sinh)

Một nghiên cứu thực hiện ở 5 nước châu Âu ở những trẻ 5 tuổi, cho thấy các trẻ sinh ra từ kỹ thuật IVF/ICSI có những chỉ số cân nặng, chiều cao giống như những trẻ bình thường, không có sự khác biệt về các bệnh lý y khoa cũng như các biểu hiện về mặt ngôn ngữ, và chỉ số thông minh (IQ) được báo cáo tại hội nghị thường niên của Hội nội tiết và sinh sản châu Âu (ESHRE) tháng 7/2003.

BV Từ Dũ
(Vô sinh, điều trị vô sinh, vô sinh nam, vô sinh nữ, thụ tinh trong ống nghiệm, cấy tinh trùng, bơm tinh trùng, vô sinh chữa được không, khám vô sinh ở đâu, chi phí điều trị vô sinh)
135935_2

CÁC BỆNH PHỤ KHOA NGUY HIỂM CÓ THỂ GÂY VÔ SINH

By on 27/04/2016

Những bệnh phụ nữ như đa nang buồng trứng, viêm vùng chậu, lạc nội mạc tử cung… đều ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.

Hội chứng đa nang buồng trứng
Hội chứng đa nang buồng trứng (viết tắt là PCOS) là một bệnh lý ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể, xuất phát từ việc mất cân bằng hormone trong hệ thống sinh sản của phụ nữ, dẫn đến tình trạng không rụng trứng. Khi ấy, khả năng sinh sản của người phụ nữ có thể bị ảnh hưởng…
Tuy nhiên, vì buồng trứng đa nang (PCOS) có liên quan đến bệnh béo phì và tiểu đường cho nên trước khi điều trị bạn cần điều chỉnh chế độ dinh dưỡng hợp lý và có lối sống lành mạnh thì có thể có thể có thai tự nhiên mà không phải dựa vào các biện pháp hỗ trợ sinh sản.

135935_2

Ảnh minh họa

Viêm vùng chậu

Bệnh viêm vùng chậu (viết tắt là PID) là một bệnh thường gặp ở nữ giới. Ngoài các triệu chứng rầm rộ như sốt cao, đau vùng bụng dưới, huyết trắng nhiều… trong những trường hợp viêm vùng chậu cấp tính, người phụ nữ có thể có những triệu chứng mơ hồ như đau nhẹ vùng hạ vị, khí hư hơi nhiều… của những trường hợp viêm vùng chậu mãn tính. Cả viêm vùng chậu cấp tính và viêm vùng chậu mãn tính đều có thể gây vô sinh, hiếm muộn cho người phụ nữ.
Viêm vùng chậu (PID) là một bệnh lý liên quan tới viêm tử cung, ống dẫn trứng hoặc buồng trứng. Các cơ quan này chủ yếu bị nhiễm trùng do các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong đó, Chlamydia và bệnh lậu là hai nguyên nhân thường gặp nhất. Ngoài ra còn có những vi trùng kỵ khí nguy hiểm khác…
Di chứng của viêm vùng chậu cấp tính cũng như mãn tính là gây nên các dải dính ở vòi trứng và vùng chậu, gây tắt nghẽn vòi trứng, thai ngoài tử cung và vô sinh.

Lạc nội mạc tử cung

Lạc nội mạc tử cung là tình trạng mô nội mạc tử cung lạc chỗ ở các vị trí khác ngoài vị trí thông thường của nó. Thông thường, nội mạc tử cung chỉ là lớp lót ở bên trong lòng tử cung. Hàng tháng, mô nội mạc tử cung có tính trạng bong tróc theo chu kỳ dẫn đến việc hành kinh của người phụ nữ.
Tuy nhiên, vì một số nguyên nhân chưa được biết rõ, mô nội mạc tử cung có thể xuất hiện tại những vị trí bất thường như buồng trứng, vòi trứng, vùng chậụ… Hàng tháng, những mô này cũng có tình trạng bong tróc, xuất huyết như mô nội mạc tử cung trong lòng tử cung. Sự bong tróc và xuất huyết của mô nội mạc lạc chỗ này dẫn đến tình trạng viêm mãn tính và hình thành các khối u lạc nội mạc tử cung, gây dính vòi trứng, buồng trứng và giảm dự trữ buồng trứng và vô sinh.

Dr Trung

093536_1

4 NHÓM PHỤ NỮ NGUY CƠ VÔ SINH CAO

By on 27/04/2016

Các yếu tố có thể gây vô sinh cho nữ giới ngày nay bao gồm: Bẩm sinh, tâm trạng không tốt, bị bệnh hoặc tác dụng phụ của thuốc…

Ngay cả khi có lối sống không lành mạnh, bất kì ai cũng có thể phải đối mặt với nguy cơ vô sinh.

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, vấn đề vô sinh đang dần trở thành mối quan tâm đặc biệt của rất nhiều người, kể cả nam giới và nữ giới. Nếu như trước kia chúng ta vẫn cho rằng những người vô sinh thường là người gặp khuyết tật ở cơ quan sinh dục hoặc là do bẩm sinh thì ngày nay nguyên nhân gây vô sinh đã mở rộng hơn rất nhiều. Thậm chí, ngay cả khi có lối sống không lành mạnh, bất kì ai cũng có thể phải đối mặt với nguy cơ vô sinh.

Các yếu tố có thể gây vô sinh cho nữ giới ngày nay bao gồm: Bẩm sinh, tâm trạng không tốt (căng thẳng, lo lắng…), bị bệnh hoặc do các tác dụng phụ của thuốc…

Nói như vậy cũng đồng nghĩa với việc có những nhóm chị em có nguy cơ vô sinh cao hơn những chị em khác. Vậy những chị em nào có nguy cơ vô sinh cao?

093536_1

Ảnh minh họa

Chị em bị các bệnh phụ khoa mãn tính: Những chị em mắc các bệnh phụ khoa hoặc bệnh liên quan đến cơ quan sinh dục như viêm nhiễm âm đạo, lạc nội mạc tử cung, rối loạn kinh nguyệt, dị tật ở tử cung hoặc cổ tử cung, viêm tắc buồng trứng… đều có thể gặp khó khăn trong việc thụ tinh nên không dễ thụ thai.

Khi bị các bệnh này, sự cân bằng hormone giới tính trong cơ thể bị phá vỡ, dẫn đến kết quả là các bộ phận trong cơ quan sinh sản không làm tốt chức năng của chúng, ví dụ như trứng rụng không đều, nội mạc tử cung hay tắc ống dẫn trứng có thể cản đường của tinh trùng khi đến thụ tinh với trứng… Buồng trứng hoạt động bất thường, không phóng noãn, thậm chí rụng trứng không đều cũng khiến cho phụ nữ không thể có thai…

Chị em có chế độ ăn uống thiếu chất dinh dưỡng: Chế độ dinh dưỡng nghèo nàn là một chế độ dinh dưỡng thiếu các vitamin cần thiết, muối khoáng, chất xơ, chất chống oxy hóa… Chế độ ăn này sẽ làm cho cơ thể thiếu hụt dinh dưỡng, các cơ quan trong cơ thể bị suy yếu, lượng hormone giới tính bị giảm sút hẳn và đe dọa khả năng rụng trứng, sinh sản của người phụ nữ.

Phụ nữ thừa cân, béo phì: Phụ nữ béo phì dễ gặp phải hiện tượng rối loạn chu kỳ ‘đèn đỏ’, từ đó có thể dẫn tới hội chứng buồng trứng đa nang, rối loạn nội tiết khác. Điều này ảnh hưởng hết sức tiêu cực đến quá trình phát triển trứng và rụng trứng bình thường. Ngay cả khi trứng đã rụng thì việc ‘thừa cân’ cũng làm cho trứng khó làm tổ. Hơn nữa, quá béo cũng làm thay đổi thành phần mỡ trong máu, tăng khả năng viêm nhiễm, giảm khả năng sống của trứng và phôi thai.

Chị em có lối sống không lành mạnh: Những chị em có thói quen hút thuốc, uống rượu, thức khuya, sử dụng các chất kích thích… cũng có thể khó có con, thậm chí còn có nguy cơ vô sinh cao. Những thói quen trên không những có thể gây rối loạn nội tiết mà còn giảm chất lượng của trứng. Điều này cũng góp phần gây khó khăn trong việc có con của chị em.

Tuy nhiên, không phải ai có những dấu hiệu trên đều bị vô sinh. Nếu bạn thấy mình rơi vào nhóm có nguy cơ cao thì bạn nên đi khám sớm để được các bác sĩ kiểm tra sức khỏe, loại trừ bệnh tật và có phương pháp tăng cường sức khỏe thích hợp nhất.

Theo VC Corp

khong-xuat-tinh

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÔNG XUẤT TINH Ở NAM GIỚI

By on 27/04/2016
Quan hệ tình dục là nhu cầu bình thường của hai phái khác giới nam và nữ, nếu như quan hệ bình thường không có biện pháp phòng tránh thì người phụ nữ có thể mang thai và sinh con. Tuy nhiên hiện nay có rất nhiều cặp vợ chồng gặp phải tình trạng trớ trêu đó chính là các vấn đề sinh lý ở nam và nữ. Một vấn đề gặp ở nam giới đó chính là tình trạng quan hệ không xuất được tinh. Dù quan hệ trong thời gia dài mà vẫn không thể nào xuất được tinh. Làm thế nào để nam giới khắc phục tình trạng này? Cùng tìm hiểu nguyên nhân sâu xa gây nên tình trạng này và tìm cách điều trị cách bạn nhé!
 
khong-xuat-tinh
Phương pháp điều trị không xuất tinh ở nam giới

Nguyên nhân dẫn tới nam không xuất tinh

Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn tới việc nam giới không xuất tinh được, theo những gì nghiên cứu đây là tình trạng  tắc ống phóng tinh, xuất tinh ngược vào bàng quang. Yếu sinh lí, rối loạn cương dương… Đối với nguyên nhân trên bệnh nhân thường gặp phải biểu hiện sau:
– Trong khi giao hợp, dương vật vẫn cương cứng, thời gian giao hợp dài trên 30 phút có khi lên tới 1h nhưng vẫn không thể đạt cực khoái và không xuất tinh được, dương vật cứ cứng mãi như thế rất lâu mới có thể mềm trở lại và có thể sau khi ngủ lại xuất tinh.
– Không đạt đến cực khoái, dương vật đau tức không xuất tinh được, tính khí thất thường dễ nổi nóng.
– Dương vật dễ bị kích thích và cương lên nhưng không đủ độ cương cứng để giao hợp đạt cực đỉnh, không xuất tinh được, cơ thể yếu mệt có thể xuất tinh kiểu ri rỉ trong lúc ngủ mê, táo bón.
Liên quan đến các vấn đề về xuất tinh không chỉ có xuất tinh sớm mà còn có xuất tinh muộn hay không xuất tinh ở nam giới. Để điều trị bệnh này dứt điểm, bạn nên đến các cơ sở y tế để thăm khám và điều trị. Căn cứ vào từng nguyên nhân gây bệnh từ đó mới có phương pháp điều trị thích hợp.

Phương pháp điều trị tình trạng không xuất tinh ở nam

Còn tùy vào từng trường hợp gây nên tình trạng không xuất tinh được để có hướng điều trị thích hợp. Một số hướng điều trị theo nguyên nhân sau đây mà bạn nên biết.
Xuất tinh ngược dòng và hậu quả là tổn thương thần kinh giao cảm chi phối phản xạ xuất tinh và đóng mở cổ bàng quang. Nguyên nhân có thể là do chấn thương tủy sống, nhất là vùng chùm đuôi ngựa, bên cạnh đó phải kể đến nguyên nhân do phẫu thuật nạo hạch vùng bụng trong điều trị ung thư, chẳng hạn như phẫu thuật cắt bỏ tiền liệt tuyến…
Thêm vào đó là tình trạng lạm dụng thuốc tăng sinh lý về lâu về dài có thể gây nên tình trạng không kiểm soát xuất tinh ở nam, thập chí mất khả năng xuất tinh. Đối với trường hợp này bạn nên ngừng thuốc cường sinh lý lại và tới nhờ các bác sĩ  tư vấn cụ thể biện pháp điều trị tình trạng của bạn.
Bằng phương pháp kích thích dương vật bằng điện, kích thích rung dương vật, xoa bóp tiền liệt tuyến, cho thấy cũng hiệu quả cho một số trường hợp xuất tinh muộn hoặc không xuất tinh.
 Nói chung hướng dù hướng điều trị bệnh không xuất tinh là gì thì bạn cũng nên tới gặp các bác sĩ để biết chính xác về bệnh của mình cũng như điều trị theo hướng nhanh nhất. Có 3 hướng thường được dùng cho điều trị không xuất tinh ở nam thường là:
– Điều trị bệnh tích cực dựa vào nguyên nhân gây bệnh, dễ dàng nắm bắt và điều trị bệnh dứt điểm hơn.
– Điều trị bệnh trong các trường hợp mắc bệnh cụ thể, món ăn bài thuốc chữa bệnh đạt hiểu quả cao dựa vào kinh nghiệm nghiên cứu y học từ xa xưa, đạt hiệu quả chữa trị cao mà không gây tác dụng phụ như các thuốc tây y hiện nay.
– Thực phẩm điều trị bệnh không phóng tinh và các biện pháp tập luyện giúp hỗ trợ điều trị bệnh không xuất tinh.
Tình trạng không xuất tinh được ảnh hưởng rất lớn tới đời sống tình dục của nam giới, ảnh hưởng tới gia đình, mối quan hệ vợ chồng, xâu hơn nữa là ảnh hưởng tới xã hội bởi không xuất tinh được là một trong những nguyên nhân gây vô sinh hiếm muộn. Chính những tác hại lớn của bệnh mà nam giới nên quan tâm tới sức khỏe của mình hơn, tìm hướng điều trị sớm để điều trị bệnh được hiệu quả hơn.