X

Tính chỉ số BMI

Chiều cao: cm

Cân nặng : kg

Tính

Được thành lập từ ngày 1/10/2002, Phòng Khám Hoàng Gia HealthcareKhông Ngừng Phát Triển, Phấn đấu Trở Thành Phòng Khám Hàng Đầu Của Thành Phố Hồ Chí Minh Và Cả Nước. Chuyên Cung Cấp Tất Cả Các Dịnh Vụ Chăm Sóc Sức Khỏe Và Thẩm Mỹ Cho MẸ VÀ BÉ. Phòng Khám Hoàng Gia Sẽ Luôn Là Phòng Khám Tiên Phong Trong Tất Cả Các Lĩnh Vực Chăm Sóc Cho MẸ VÀ BÉ Như: Thẩm Mỹ Phụ Khoa- Hiếm Muộn- Vô Sinh- Phụ Sản- Nhũ Hoa – Tầm Soát Ung Thư -Lãnh Cảm Phụ Nữ Sau Sanh- Khám Vô sinh Nam- Khám Nhi khoa Khoa Khám Nhi Phòng Khám Hoàng Gia Do Nhóm Giảng Viên – Tiến Sĩ – Bác Sĩ Của Các Bệnh Viện Đại Học Y Dược – Từ Dũ – Hùng Vương Trực Tiếp Khám Và Điều Trị. Lấy Phương Châm Phục Vụ Khách Hàng Bằng Cả Trái Tim, Các Bác Sĩ Phòng Khám Cam Kết Đem Lại Sự Hài Lòng Cho Khách Hàng.

Archives

KHÁM & CHẨN ĐOÁN HIẾM MUỘN

By on 26/04/2016

Hiếm muộn là gì ?

Hiếm muộn được định nghĩa là tình trạng một cặp vợ chồng không thể có thai hoặc không có con sau ít nhất một năm giao hợp bình thường, không ngừa thai. Người càng lớn tuổi, đặc biệt sau 35 tuổi, khả năng có thai sẽ giảm. Hiện nay người ta có khuynh hướng rút ngắn thời gian chẩn đoán hiếm muộn xuống 6 tháng (thay vì 1 năm) cho những cặp vợ chồng lớn tuổi (trên 35 tuổi). Do đó, bạn nên đi điều trị sớm nếu có vấn đề về hiếm muộn .

Tỉ lệ hiếm muộn là bao nhiêu ?

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có khoảng 8-10% cặp vợ chồng có vấn đề liên quan đến hiếm muộn. Tuy nhiên, tỉ lệ hiếm muộn ở một số quốc gia có thể cao hơn do hoàn cảnh và tập quán sinh sống. Ví dụ ở Pháp, một nghiên cứu ước tính có khoảng 18% số cặp vợ chồng trong tuổi sinh sản có vấn đề hiếm muộn. Ở nước ta, theo số liệu điều tra dân số từ những năm 80, tỉ lệ hiếm muộn có thể trên 10%.

Hiếm muộn là bệnh của vợ hay chồng ?

Bạn nên biết hiếm muộn được xem là một tình trạng bệnh lý của một cặp vợ chồng. Tỉ lệ hiếm muộn nguyên nhân do vợ và chồng là tương đương nhau. Theo nhiều số liệu thống kê, nguyên nhân do vợ chiếm 30-40%, do chồng chiếm 30%, do cả vợ và chồng chiếm 15-30% và có khoảng 10% hiếm muộn không rõ nguyên nhân .

Các nguyên nhân gây hiếm muộn – vô sinh thường gặp ?

  • Đối với người vợ thường có các nguyên nhân sau
    – Tổn thương vòi trứng
    – Không có hiện tượng rụng trứng hay rụng trứng không thường xuyên .
    – Lạc nội mạc tử cung
  • Đối với người chồng
    – Thường gặp nhất là bất thường về số lượng và chất lượng tinh trùng, chiếm đến 90% trường hợp hiếm muộn do nam giới .

Xét nghiệm thường thực hiện khi khám và điều trị hiếm muộn?
Người vợ thường được thực hiện các xét nghiệm sau
– Siêu âm
– Xét nghiệm định lượng nội tiết: tuỳ từng xét nghiệm, phải được làm theo đúng ngày nhất định trong chu kỳ kinh .
– Chụp X quang tử cung- vòi trứng (HSG): thường thực hiện sau khi sạch kinh
– Nội soi chẩn đoán.
Hầu hết tất cả người chồng đến khám hiếm muộn đều phải được thử tinh dịch đồ (phân tích tinh dịch). Đây là xét nghiệm cơ bản và cần thiết để chấn đoán và điều trị cho dù nguyên nhân hiếm muộn là do chồng hay vợ.

Chụp X quang buồng tử cung và vòi trứng (HSG) là gì ?

Đây là xét nghiệm đánh giá hai vòi trứng của người vợ có thông hay không và phát hiện những bất thường khác ở tử cung. HSG thường được thực hiện sau khi sạch kinh hoàn toàn khoảng 2 ngày. khi thực hiên, một thuốc cản quang sẽ được bơm vào buồng tử cung và vòi trứng, nếu vòi trứng thông thuốc sẽ chảy ra ngoài ổ bụngvà được phát hiện khi xem phim chụp X-quang. Tuy nhiên, trong trường hợp có nghi ngờ tổn thương vòi trứng, bác sĩ sẽ đề nghị bạn thực hiện mổ nội soi để chấn đoán tổn thương hoặc thông vòi trứng.

Mổ nội soi ?

Trong chẩn đoán và điều trị hiếm muộn, bác sĩ thường cho chỉ định bạn thực hiện mổ nội soi khi nghi ngờ có tổn thương ở vòi trứng do nhiều bệnh lý khác nhau. Mổ nội soi thường một cuộc mổ nhẹ, thời gian hồi phục nhanh, có thể xuất viện khoảng 2 ngày sau mổ. Sau khi mổ chỉ để lại vài vết sẹo nhỏ khoảng 1cm trên bụng .Trước khi mổ, bạn cần làm một số xét nghiệm để hội chuẩn và hồ sơ nhập viện.

Mổ nội soi giúp cho bác sĩ biết rõ tổn thương của buồng tử cung, vòi trứng, buồng trứng và các tổn thương khác nếu có. Mổ nội soi có thể giúp phục hồi lại chức năngvòi trứngvà điều trị một số bệnh lý khác của tử cung, vòi trứng và vùng chậu .

Tinh dịch đồ ?

Tinh dịch đồ (còn gọi là phân tích tinh dịch) là xét nghiệm cơ bản để chẩn đoán khả năng sinh sản của nam giới. Tinh dịch đồ cho biết được số lượng và chất lượng tinh trùng có trong tinh dịch, đồng thời nó có thể chẩn đoán được nguyên nhân của các bất thường về tinh trùng. Hầu hết các cặp vợ chồng điều trị hiếm muộn đều cần phải thực hiện tinh dịch đồ.

Tinh dịch được lấy làm xét nghiệm sau 3-5 ngày kiêng giao hợp. Phải lấy tinh dịch bằng tay (như thủ dâm) mới đảm bảo được kết quả chính xác. Nếu lấy mẫu ở nhà phải đem đến phòng xét nghiệm trong vòng 1 giờ sau. Mẫu phải được chứa vào hũ vô trùng và được giữ ấm(<40 độ C) trước khi thực hiện xét nghiệm.

U XƠ TỬ CUNG

By on 24/04/2016

U xơ tử cung

U xơ cơ tử cung là khối vùng bụng dưới thường gặp nhất ở phụ nữ, là khối u lành tính xuất phát từ cơ trơn cơ tử cung. U xơ cơ tử cung cơ tử cung thường xuất hiện ở tuổi sinh sản, tần suất 12 – 25 %, gây ra xuất huyết tử cung bất thường, đau và chèn ép vùng chậu, cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản ( vô sinh, các kết cục xấu của thai kỳ).

Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ 

– Chủng tộc: phụ nữ da đen có tần suất mắc bệnh – kích thước khối u xơ cơ tử cung cao hơn, thời điểm xuất hiện triệu chứng bệnh sớm hơn và biểu hiện bệnh nặng hơn so với phụ nữ da trắng.

– Tiền căn kinh nguyệt – sản khoa: Dậy thì sớm và tiền căn tiếp xúc diethylstilbestrol có liên quan với sự tăng nguy cơ phát triển nhân xơ.

– Thuốc ngừa thai: Viên uống ngừa thai phối hợp không làm tăng nguy cơ phát triển của u xơ tử cung. Tuy nhiên, cần chú ý nếu người phụ nữ đang bị u xơ tử cung không phải là chống chỉ định của việc dùng thuốc ngừa thai phối hợp.

– Thuốc kích thích buồng trứng: mối liên quan giữa sự phát triển của u xơ tử cung với thuốc kích thích buồng trứng là chưa rõ ràng:

  • Béo phì: đa số các nghiên cứu chỉ ra sự liên hệ giữa u xơ tử cung với sự tăng chỉ số khối cơ thể. Tuy nhiên, mối liên hệ này phức tạp và có thể bị gây nhiều bởi nhiều yếu tố khác.
  • Chế độ ăn: chế độ ăn nhiều thịt đỏ, sử dụng nhiều rượu bia tăng nguy cơ u xơ tử cung.
  • Di truyền: có liên quan yếu tố gia đình có mẹ – chị em gái ruột bị u xơ tử cung.
  • Yếu tố khác: thời gian và độ nặng của tăng huyết áp liên quan đến sự tăng nguy cơ u xơ tử cung.

tong-hop-nguyen-nhan-va-cach-dieu-tri-u-xo-tu-cung1 (1)

U xơ tử cung gây khá nhiều phiền phức cho chị em, đặc biệt là các chị em đang trong thai kì:

– U xơ tử cung chèn ép lên các bộ phận khác, gây đau đớn và cản trở quá trình sinh hoạt và tình dục.

– U xơ tử cung nếu ở vị trí như dưới niêm mạc tử cung khiến nội mạc tử cung bị thay đổi, gây khó thụ tinh. Các triệu chứng có thể kèm theo như kinh nguyệt không đều, cường kinh…

– Thai phụ có u xơ tử cung dễ bị sẩy thai, sinh non, sẩy thai liên tiếp, băng huyết sau sinh

– Gây táo bón nếu u xơ tử cung quá to, chèn ép đường ruột người phụ nữ

– Gây tiểu khó, nhiễm trùng tiểu tái phát, đau lưng dai dẳng nếu u xơ tử cung to chèn ép bọng đái, niệu quản

Triệu chứng
– Đau bụng dưới, đặc biệt là vùng dưới rốn nhất là vào các kì kinh nguyệt.
– Cơn đau kéo dài vùng bụng dưới khi quan hệ tình dục.
– Ra huyết âm đạo bất thường như rong kinh, cường kinh.
– Luôn thấy buồn tiểu do u ép vào bàng quang. Nếu u ép đến trực tràng, người bệnh có thể bị trĩ và táo bón.
– Khó thụ thai, hiếm muộn, vô sinh

Phân loại

UXCTC được phân loại theo hai cách, theo tính chất và theo vị trí khối u.

Theo tính chất, u xơ cơ tử cung có 2 dạng: không triệu chứng và có triệu chứng. Hầu hết UXCTC thuộc dạng không triệu chứng, thường không cần điều trị. UXCTC có triệu chứng cần được điều trị và theo dõi (Murase và cs, 1999; Vilos và cs, 2015).

Theo vị trí, hiện nay, hệ thống phân loại u xơ tử cung của Hiệp hội Sản Phụ khoa Quốc tế FIGO năm 2011 được sử dụng phổ biến nhất (Munro và cs, 2011). Phân loại được mô tả chi tiết theo hình bên dưới.

Các u xơ tử cung L0, L1, L2 thường gây triệu chứng xuất huyết tử cung bất thường, có thể là nguyên nhân của vô sinh và sẩy thai. Nhóm này cần được điều trị bằng phương pháp nội soi buồng tử cung (Lefebvre và cs, 2003).

UXCTC L3 cũng có thể gây triệu chứng xuất huyết tử cung bất thường hoặc không. Điều trị nhóm này thường ưu tiên dùng thuốc để làm giảm kích thước khối u trước khi mang thai (Lefebvre và cs, 2003).

Các U xơ tử cung L4-8 thường không gây xuất huyết tử cung bất thường. u xơ cơ tử cung nhóm này cần điều trị khi kích thước to hoặc u chèn ép gây thận ứ nước hoặc bí tiểu hoặc táo bón. Có thể cân nhắc điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật bóc u đối với phụ nữ còn nguyện vọng mang thai.

Kỹ thuật chuẩn đoán
– Siêu âm: Siêu âm để thấy được hình dáng và kích thước của u.
– Sinh thiết nội mạc tử cung từng phần: Được thực hiện trước khi phẫu thuật nhằm loại trừ ung thư nội mạc tử cung có thể kèm theo hoặc với mục tiêu cầm máu nếu u xơ tử cung gây băng huyết không đáp ứng với điều trị bằng thuốc.
– Nội soi tử cung: đưa camera nhỏ qua đường âm vào tử cung để quan sát bên trong.

Điều trị
Giống như đa số các bệnh phụ nữ khác, điều trị u xơ thường bằng 2 cách: nội khoa và phẫu thuật. Dựa vào kích thước, vị trí khối u và các vấn đề của người phụ nữ đi kèm mà bác sĩ sẽ đưa ra các lời khuyên phù hợp.

U xơ tử cung là căn bệnh hay gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh, vì vậy các chị em cần trang bị cho mình đầy đủ các kiến thức để sẵn sàng đối mặt và xử lí căn bệnh này.

ĐĂNG KÝ KHÁM VÀ TƯ VẤN:

Book

U NANG BUỒNG TRỨNG

By on 24/04/2016

Định nghĩa

U nang buồng trứng là những u có vỏ bọc bên ngoài, bên trong chứa dịch, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, phát sinh từ các thành phần cấu trúc buồng trứng bình thường hay từ những di tích phôi thai của buồng trứng. U nang buồng trứng có thể gây rối loạn kinh nguyệt, gây khó chịu tại chỗ, làm giảm chức năng sinh sản, đôi khi gây suy nhược cơ thể hoặc có thể gây tử vong do ung thư.

  • Tần suất mắc

Trong độ tuổi sinh sản, phần lớn u thực thể của buồng trứng là lành tính (80-85%), và nguy cơ ác tính sẽ tăng dần theo tuổi. Nguy cơ ác tính của khối u buồng trứng ở tuổi mãn kinh là 29 – 35%.

Khối u buồng trứng được chia 2 loại: u cơ năng và u tân sinh

– U cơ năng: nang noãn bào, nang hoàng thể, nang hoàng tuyến.

– U tân sinh: lành tính, ác tính (u tế bào biểu mô, u tế bào mầm, u tế bào đệm sinh dục, u các loại tế bào khác).

Trước tuổi dậy thì: 80% là u tế bào mầm, trong đó 10 -50% là u ác tính.

Trong tuổi sinh sản: khoảng 90% là lành tính, trong đó 75% là u cơ năng, 25% là u thực thể trong đó là u lành, u ác tính, u lạc nội mạc, tỷ lệ hóa ác khoảng 10%.

Tuổi mãn kinh: 95% u buồng trứng là loại tế bào biểu mô, 50% hóa ác, và nguy cơ hóa ác tăng theo tuổi.

Nguy cơ ác tính

– Tuổi: nguy cơ ung thư buồng trứng tăng theo tuổi

– Yếu tố dịch tể: béo phì, hành kinh sớm, chưa sinh con, vô sinh nguyên phát, lạc nội mạc tử cung.

– Những người mang đột biến gene BCRA1, BCRA2

– Tiền căn gia đình: K buồng trứng, K vú, K nội mạc tử cung, K đại trực tràng, K tụy.

trieu-chung-cach-dieu-tri-u-nang-buong-trung

Chị em trong độ tuổi sinh sản cần quan sát và chú ý kĩ, trong trường hợp phát hiện u cần gặp bác sĩ để có phương án điều trị tốt, tránh để u phát triển thêm, biến chứng thành ung thư buồng trứng hoặc gây xoắn nang rất nguy hiểm cho khả năng sinh sản thậm chí là tính mạng của chị em.

U nang buồng trứng lành tính thì không có nhiều tác hại, chủ yếu u chỉ làm chậm quá trình sinh sản. Do các nang trứng dễ vướng phải u và bị trễ quá trình rụng. Tuy các khối u thường khá dị biệt, nhưng chúng cũng có một số đặc điểm chung như:

– Đối với u lành tính thì u chỉ xuất hiện trên một buồng trứng và tự vỡ hoặc teo sau vài tháng.
– Đường kính u không quá 7cm
– Trong trường hợp chưa vỡ và tổn thương, u sẽ giống như một cục dịch dính với nhau, không màu

Triệu chứng

– Thường không có triệu chứng, và phát hiện tình cờ hay qua tầm soát

– Nếu có triệu chứng thì u đã quá to hoặc có biến chứng, thường là giai đoạn trễ cúa ung thư buồng trứng: bụng to dần, đau bụng, bụng lình phình, báng bụng, ăn không ngon, rối loạn đi tiểu, sụt cân, xuất huyết sau mãn kinh, tiêu máu.

– Khám thực thể có thể sờ thấy khối u vùng hạ vị, cạnh phải hoặc trái với rãnh ngăn cách với tử cung.

Biến chứng của khối u buồng trứng:

– Biến chứng cấp: xoắn, xuất huyết trong nang, vỡ nang, nhiễm trùng (hiếm gặp)

– Biến chứng bán cấp: bán xoắn, nứt u.

– Biến chứng khác: chèn ép cơ quan lân cận, thoái hóa ác tính.

– Biến chứng sản khoa: u tiền đạo, ngôi bất thường, sanh non, xoắn u thời kỳ hậu sản.

Phân loại

Có nhiều cách để phân loại khối u:
– Theo nguyên nhân: thì các nhà khoa học hay xác định 2 loại u là u nang thực thể và u nang cơ năng. Trong đó u năng cơ năng được sinh ra do cơ chế điều tiết có nhiều biến đổi trong cơ thể, thường không nguy hiểm và tự mất đi. Còn u năng thực thể là loại u được cảnh báo nên xử lí bởi lẽ nó thường sinh ra bởi một bệnh lí khác đang nảy sinh trong cơ thể.

– Theo tính chất khối u: ví dụ như u chứa dịch hay đặc, tính chất của dịch của ảnh hưởng tới việc xác định loại u.

– Theo kích thước hay hình dạng khối u

– Theo bản chất lành hay ác tính: về cơ bản việc u ác hay lành không thể chắc chắn chỉ với việc siêu âm, chỉ có thể xác định ảnh hưởng của u dựa vào biểu hiện ra ngoài và thử nghiệm giải phẫu sau khi cắt đem ra ngoài.

Kỹ thuật chẩn đoán

1 Siêu âm

Siêu âm đầu dò âm đạo có giá trị hữu ích nhất khi đánh giá khối u vùng chậu, độ nhạy 92% (88-95%), độ đặc hiệu 83% (77-88%).

Siêu âm bụng hỗ trợ một số thông tin khi khối u to quá khả năng đo của siêu âm đầu dò, đánh giá tình trạng dịch ổ bụng hoặc tình trạng lan tràn ổ bụng nếu có hoặc trong một số trường hợp không thể siêu âm đầu dò âm đạo.

Siêu âm doppler nhìn chung không cho thấy việc cải thiện có ý nghĩa độ đặc hiệu của chẩn đoán nhưng khi kết hợp siêu âm ngã âm đạo có thể cải thiện độ nhạy, đặc biệt là trong các trường hợp phức tạp do siêu âm doppler đánh giá được mạch máu khối u.

2 Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác như CTscan, MRI không cải thiện độ nhạy và độ đặc hiệu so với siêu âm ngã âm đạo, không được xem là xét nghiệm hình ảnh học đầu tay cho việc đánh giá các u nang buồng trứng. Thường được chỉ định khi siêu âm không thể mô tả rõ ràng bản chất và nguồn gốc khối u hoặc nghi ngờ ung thư buồng trứng, trong đó MRI được ưa chuộng hơn. CTscan dùng để phát hiện dịch báng ổ bụng, di căn mạc nối lớn, phúc mạc bụng, hạch sau phúc mạc, di căn các tạng ổ bụng, các tình trạng tắc nghẽn tiết niệu, có khả năng phát hiện các vị trí ung thư nguyên phát bao gồm cả ruột và đại tràng. PET CT không được ủng hộ sử dụng thường quy trong việc đánh giá ban đầu khối u buồng trứng, thường dùng để đánh giá nghi ngờ.

3 Chất chỉ điểm khối u:

– CA125 chỉ tăng trong trong khoảng 50% các trường hợp ung thư biểu mô buồng trứng giai đoạn sớm và tăng trong khoảng 80% trường hợp ung thư biểu mô xâm lấn, CA125 cũng tăng trong lạc nội mạc tử cung, viêm nhiễm vùng chậu, u xơ, viêm túi thừa, viêm ruột hoặc rối loạn chức năng gan. Thường dùng để theo dõi điều trị và diễn tiến hơn là chẩn đoán.

Độ nhạy thay đổi từ 61-90%, độ đặc hiệu từ 71-93%, giá trị tiên đoán dương từ 35-91%, giá trị tiên đoán âm từ 67-90%.

Độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán dương tính của CA 125 ở phụ nữ mãn kinh cao hơn so với phụ nữ tiền mãn kinh.

Ngưỡng CA 125 ở phụ nữ tiền mãn kinh là 200U/ml, ở phụ nữ mãn kinh là 35U/ml

Được chỉ định khi khối u buồng trứng nghi ngờ ung thư.

HE 4 – Human Epididymis Protein 4

Độ nhạy 78%; độ đặc hiệu 95%; PPV 80% và NPV 90%

Được chỉ định khi khối u buồng trứng nghi ngờ ung thư.

– ROMA test:

Thuật toán này dùng HE 4 kết hợp với CA 125 và tình trạng kinh nguyệt để tính nguy cơ ác tính của buồng trứng.

Phụ nữ tiền mãn kinh: Độ nhạy 74,8% và độ đặc hiệu 76,5%.

Phụ nữ mãn kinh: Độ nhạy 92,3% và độ đặc hiệu 75%.

Được chỉ định khi khối u buồng trứng nghi ngờ ung thư.

– Một số chất chỉ điểm khác:

BhCG: Carcinoma phôi, Carcinoma đệm nuôi

AFP: u túi noãn hoàng

LDH: U nghịch mầm

Các dấu hiệu sinh học này được chỉ định khi bệnh nhân trẻ dưới 40 tuổi có khối u buồng trứng nghi ngờ ung thư.

Inhibin: u tế bào hạt

Khối u buồng trứng nghi ngờ do di căn từ nơi khác: CEA (nghi ngờ ung thư đại trực tràng), CA19.9 (nghi ngờ ung thư đại trực tràng và tụy), CA153 (nghi ung thư vú).

Điều trị

Đối với u cơ năng thì u không cần điều trị cũng sẽ tự tiêu biến. Đối những u buồng trứng được xác định là u thực thể thì không thể tự nhiên khỏi bệnh nếu không điều trị. Tuy nhiên, tùy theo độ tuổi, số con, tiền sử sinh sản của người phụ nữ, mong muốn có con của cặp vợ chồng, khả năng lành tính của khối U buồng trứng qua siêu âm và xát nghiệm máu… các BS chuyên khoa sẽ tư vấn và lựa chọn các phương pháp điều trị sao cho phù hợp nhất.

TS. Nguyễn Hữu Trung

Trưởng khoa Phụ Sản- Bệnh viện Đại học Y Dược (cơ sở 2)

Giảng viên Đại học Y dược TP HCM

Bác sĩ Bệnh viện Hùng Vương

Giám đốc chuyên môn Phòng khám Hoàng Gia Healthcare

Book

UNG THƯ NỘI MẠC TỬ CUNG

By on 22/04/2016

Ung thư nội mạc tử cung! Chảy máu sau mãn kinh, kéo dài thời gian hoặc chảy máu giữa kỳ kinh, chảy máu bất thường từ âm đạo, đau vùng chậu, đau khi giao hợp, giảm cân ngoài ý muốn…

Định nghĩa

Mặc dù việc chẩn đoán bệnh ung thư nội mạc tử cung là khó khăn, những tin tức tốt lành là loại ung thư này thường được tìm thấy ở giai đoạn sớm nhất của nó có thể điều trị.

Ung thư nội mạc tử cung, một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ Mỹ, bắt đầu trong tế bào nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung, tử cung rỗng hình quả lê – cơ quan vùng chậu, nơi bào thai phát triển xảy ra. Ung thư nội mạc tử cung đôi khi được gọi là ung thư tử cung, nhưng cũng có những tế bào khác trong tử cung có thể trở thành ung thư, chẳng hạn như cơ hoặc các tế bào myometrial. Những hình thức loại ung thư ít phổ biến được gọi là sacôm.

Ung thư nội mạc tử cung thường được phát hiện ở giai đoạn đầu bởi vì nó thường xuyên tạo ra chảy máu âm đạo giữa chu kỳ kinh nguyệt hoặc sau khi mãn kinh. Nếu ung thư nội mạc tử cung được phát hiện sớm, loại bỏ tử cung bằng phẫu thuật thường loại bỏ tất cả của ung thư.

Các triệu chứng

Hầu hết các trường hợp ung thư nội mạc tử cung phát triển ở phụ nữ sau mãn kinh, thời kỳ đã dừng lại. Các đầu mối đầu tiên có thể bị chảy máu âm đạo bất thường.

Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư nội mạc tử cung có thể bao gồm:

  • Chảy máu bất thường sau mãn kinh.
  • Kéo dài thời gian hoặc chảy máu giữa chu kỳ.
  • Chảy máu bất thường từ âm đạo.
  • Đau vùng chậu.
  • Đau khi giao hợp.
  • Giảm cân ngoài ý muốn.

Gặp bác sĩ khi

Bởi vì ung thư nội mạc tử cung có nhiều khả năng được chữa khỏi, gặp bác sĩ nếu có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của căn bệnh này, bao gồm chảy máu âm đạo không liên quan đến thời gian, đau vùng chậu hoặc đau khi giao hợp. Nhiều người trong số các triệu chứng tương tự có thể được kết hợp với không phải ung thư (lành tính), chẳng hạn như nhiễm trùng âm đạo, u xơ tử cung hoặc polyp tử cung. Nhưng nó rất quan trọng để mang đến sự chú ý của bác sĩ.

Nếu đang có nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, nói chuyện với bác sĩ về những gì có thể được xét nghiệm sàng lọc thích hợp. Nếu có bị ung thư nội mạc tử cung, bác sĩ nên phác thảo một chương trình theo dõi thường xuyên cho tái phát có thể.

Nguyên nhân

Các tế bào khỏe mạnh phát triển và phân chia một cách có trật tự để giữ cho cơ thể hoạt động bình thường. Nhưng đôi khi các tế bào trở nên bất thường (đột biến) và phát triển ngoài tầm kiểm soát. Các tế bào tiếp tục phân chia tế bào mới ngay cả khi không cần thiết. Những tế bào bất thường có thể xâm nhập và phá hủy các mô lân cận và thậm chí có khả năng di chuyển đến các bộ phận khác của cơ thể và bắt đầu phát triển ở đó.

Trong ung thư nội mạc tử cung, các tế bào ung thư phát triển trong tử cung. Tại sao các tế bào ung thư phát triển không hoàn toàn được biết đến. Tuy nhiên, các nhà khoa học tin rằng mức estrogen đóng vai trò trong sự phát triển của ung thư nội mạc tử cung. Các yếu tố có thể làm tăng mức hormone này và các yếu tố nguy cơ khác của bệnh đã được xác định và tiếp tục xuất hiện. Ngoài ra, nghiên cứu liên tục được dành cho nghiên cứu thay đổi trong các gen nào đó có thể gây ra các tế bào trong nội mạc tử cung để trở thành ung thư.

Yếu tố nguy cơ

Các hệ thống sinh sản của nữ gồm hai buồng trứng, hai ống dẫn trứng, một tử cung và âm đạo. Các buồng trứng sản xuất hai hormone nữ chính, estrogen và progesterone. Sự cân bằng giữa hai sự thay đổi hormone mỗi tháng, làm cho nội mạc tử cung dày lên trong thời kỳ đầu của chu kỳ hàng tháng. Nếu thai kỳ không xảy ra, nội mạc tử cung sau đó được đổ ra trong giai đoạn cuối của chu kỳ kinh nguyệt.

Khi sự cân bằng của hai hormone estrogen di chuyển đến gần hơn, kích thích sự tăng trưởng của nội mạc tử cung, một người phụ nữ nguy cơ phát triển ung thư nội mạc tử cung tăng lên. Những yếu tố có mức tăng estrogen trong cơ thể bao gồm:

Nhiều năm có kinh nguyệt. Nếu bắt đầu có kinh ở độ tuổi sớm trước khi 12 tuổi hoặc bắt đầu thời kỳ mãn kinh sau đó, có nguy cơ cao của bệnh ung thư nội mạc tử cung hơn là một người phụ nữ khác.

Không bao giờ có thai. Mang thai dường như giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, mặc dù các chuyên gia không chắc chắn chính xác tại sao điều này có thể. Cơ thể sản xuất estrogen nhiều hơn trong thai kỳ, nhưng nó tạo ra nhiều progesterone. Progesterone tăng sản xuất có thể bù đắp những tác động của việc gia tăng mức estrogen. Cũng có thể không có được mang thai có thể là kết quả của vô sinh do sự rụng trứng không đều, đó có thể là lý do tại sao những phụ nữ không bao giờ mang thai có nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.

Không thường xuyên rụng trứng. Sự rụng trứng, việc phát hành hàng tháng của một quả trứng từ một buồng trứng ở phụ nữ có kinh, là quy định của estrogen. Không thường xuyên rụng trứng hoặc không rụng trứng làm tăng tiếp xúc với estrogen. Sự rụng trứng không đều có nhiều nguyên nhân, bao gồm cả béo phì và tình trạng được gọi là hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS). Đây là một tình trạng mất cân bằng nội tiết tố, trong đó ngăn chặn sự rụng trứng và kinh nguyệt. Điều trị bệnh béo phì và quản lý các triệu chứng của PCOS có thể giúp phục hồi sự rụng trứng hàng tháng và chu kỳ kinh nguyệt, giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.

Bệnh béo phì. Buồng trứng không phải là nguồn duy nhất của estrogen. Mô mỡ có thể sản xuất estrogen. Béo phì có thể làm tăng mức độ estrogen trong cơ thể, đưa tới có nguy cơ cao của bệnh ung thư nội mạc tử cung và ung thư khác. Béo phì, phụ nữ có ba lần nguy cơ ung thư nội mạc tử cung và phụ nữ thừa cân có nguy cơ gấp hai lần, theo Hiệp hội Ung thư Mỹ. Tuy nhiên, phụ nữ gầy cũng có thể phát triển ung thư nội mạc tử cung.

Một chế độ ăn giàu chất béo. Loại chế độ ăn uống có thể thêm vào nguy cơ ung thư nội mạc tử cung bằng cách thúc đẩy béo phì. Hoặc, thực phẩm béo trực tiếp ảnh hưởng đến sự trao đổi chất estrogen, làm tăng thêm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung người phụ nữ.

Bệnh tiểu đường. Ung thư nội mạc tử cung phổ biến hơn ở phụ nữ bị tiểu đường, có thể vì bệnh béo phì và tiểu đường type 2 thường đi song song. Tuy nhiên, ngay cả phụ nữ bị tiểu đường không phải là người thừa cân có nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.

Estrogen – thay thế trị liệu (ERT). Estrogen kích thích sự tăng trưởng của nội mạc tử cung. Thay thế estrogen sau khi mãn kinh có thể làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Lấy progestin tổng hợp, một hình thức của các hormone progesterone với estrogen – sự kết hợp giữa liệu pháp hormone thay thế thực sự làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Tuy nhiên, sự kết hợp này có thể gây ra nguy cơ sức khỏe khác, chẳng hạn như cục máu đông hay ung thư vú.

Các khối u buồng trứng. Một số khối u buồng trứng của có thể là một nguồn estrogen, làm tăng mức estrogen.

Các yếu tố khác có thể làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung bao gồm:

Tuổi. Tuổi càng cao, càng có nhiều nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Đa số các bệnh ung thư nội mạc tử cung xảy ra ở phụ nữ lớn tuổi hơn 55.

Lịch sử bản thân bệnh ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng. Nếu đã có vú hoặc ung thư buồng trứng, có thể có tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung vì tất cả các bệnh ung thư chia sẻ một số các yếu tố nguy cơ tương tự. Tuy nhiên, đại đa số các phụ nữ có hoặc vú hoặc ung thư buồng trứng không bao giờ phát triển ung thư nội mạc tử cung.

Điều trị Tamoxifen. Một trong tất cả 500 phụ nữ có ung thư vú đã được điều trị với tamoxifen sẽ phát triển ung thư nội mạc tử cung. Mặc dù tamoxifen chủ yếu như là chặn estrogen, nó có một số hiệu ứng giống như estrogen và có thể gây ra nội mạc tử cung phát triển. Nếu đang được điều trị bằng hoóc môn này, xem bác sĩ cho khám phụ khoa hàng năm và chắc chắn để báo cáo bất cứ chảy máu âm đạo bất thường.

Chủng tộc. Phụ nữ da đen có nguy cơ tử vong do ung thư nội mạc tử cung, mặc dù phụ nữ da trắng có nhiều khả năng phát triển ung thư nội mạc tử cung.

Di truyền ung thư đại trực tràng nonpolyposis (HNPCC). Căn bệnh di truyền là do sự bất thường trong một gene quan trọng cho việc sửa chữa DNA. Phụ nữ với HNPCC có nguy cơ cao hơn đáng kể bệnh ung thư nội mạc tử cung cũng như ruột kết và ung thư khác. Nguy cơ ung thư nội mạc tử cung cho những phụ nữ có HNPCC đột biến là từ 40% đến 60%, theo Hiệp hội Ung thư Mỹ.

Có yếu tố nguy cơ ung thư nội mạc tử cung không có nghĩa là sẽ nhận được bệnh tật. Nó có nghĩa là có nguy cơ và cần được cảnh báo để có thể có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh. Ngược lại, một số phụ nữ phát triển ung thư nội mạc tử cung xuất hiện không có yếu tố nguy cơ bệnh.

774-thongtin-ung-thu-noi-mac-tu-cung

Các biến chứng

Các biến chứng nghiêm trọng nhất của ung thư bao gồm ung thư nội mạc tử cung, là nó có thể lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể (di căn). May mắn thay, khi phát hiện sớm, ung thư nội mạc tử cung thường có thể chữa được. tỷ lệ sống sót năm năm là 95% bệnh ung thư nội mạc tử cung giai đoạn đầu. Nếu ung thư nội mạc tử cung đã đạt đến giai đoạn cao trước khi chẩn đoán, nó có thể đã lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể và có nhiều khó khăn để điều trị thành công.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bác sĩ phụ khoa hoặc bác sĩ chăm sóc sẽ thực hiện một lịch sử hoàn thành y tế và thực hiện một cuộc kiểm tra thể chất và khung chậu. Trong quá trình khám phụ khoa, bác sĩ cảm thấy đối với bất kỳ cục u hoặc thay đổi hình dạng của tử cung mà có thể chỉ ra một vấn đề.

Chẩn đoán có thể có hoặc không có thể bao gồm các xét nghiệm:

Transvaginal siêu âm. Bác sĩ có thể đề nghị một transvaginal siêu âm để xem xét độ dày và kết cấu của nội mạc tử cung và giúp loại bỏ các điều kiện khác. Trong tiến trình này, một thiết bị giống như cây đũa (bộ chuyển đổi) được đưa vào âm đạo. Bộ chuyển đổi này sử dụng sóng âm thanh để tạo ra một hình ảnh video của tử cung. Thử nghiệm này giúp bác sĩ tìm những bất thường trong tử cung và nó có thể được thực hiện trước khi sinh thiết nội mạc tử cung để xác định vị trí nghi ngờ mô.

Sinh thiết nội mạc tử cung. Để có được một mẫu tế bào từ bên trong tử cung, có thể trải qua sinh thiết nội mạc tử cung. Điều này bao gồm việc loại bỏ các mô từ lớp lót tử cung để phân tích trong phòng thí nghiệm. Điều này có thể được thực hiện tại văn phòng bác sĩ và thường không cần gây mê. Bởi vì các nguy cơ gia tăng, những phụ nữ có HNPCC đột biến nên nói chuyện với bác sĩ của họ về sinh thiết nội mạc tử cung hàng năm bắt đầu từ khoảng tuổi 35.

Nong và nạo (D và C). Nếu đủ các mô không thể có được trong quá trình sinh thiết hoặc nếu sinh thiết cho thấy bệnh ung thư, cần phải trải qua một D và C. Trong thủ tục này, đòi hỏi phải trong một phòng gây tê, mô cạo từ niêm mạc tử cung và kiểm tra dưới kính hiển vi cho các tế bào ung thư.

Pap test. Bác sĩ có một mẫu tế bào từ cổ tử cung, phần, thấp hẹp của tử cung mở ra vào trong âm đạo. Các bác sĩ sử dụng xét nghiệm Pap để phát hiện một dạng khác của ung thư – ung thư cổ tử cung. Bởi vì ung thư nội mạc tử cung bắt đầu bên trong tử cung, nó hiếm khi bị phát hiện bởi một xét nghiệm Pap.

Nếu ung thư nội mạc tử cung được tìm thấy, có thể được giới thiệu đến một bác sĩ chuyên khoa phụ khoa – một bác sĩ chuyên điều trị bệnh ung thư liên quan đến hệ thống sinh sản nữ. Cần phải thử nghiệm thêm để xác định liệu ung thư đã lan (di căn) tới các phần khác của cơ thể. Các xét nghiệm này có thể bao gồm chụp X – quang, chụp cắt lớp vi tính (CT) quét và một số xét nghiệm máu.

Trong ung thư nội mạc tử cung, xét nghiệm cuối cùng được thực hiện thông qua một thủ tục phẫu thuật và được thực hiện cùng một lúc như bất kỳ điều trị phẫu thuật:

Giai đoạn I. Ung thư chỉ được tìm thấy trong tử cung và không lây lan.

Giai đoạn II. Ung thư có trong cơ thể cả hai tử cung và cổ tử cung. Trong giai đoạn này, ung thư không còn giới hạn trong tử cung, nhưng không lan rộng ra khỏi khu vực xương chậu.

Giai đoạn III. Ung thư đã không tham gia vào trực tràng và bàng quang, mặc dù các hạch bạch huyết vùng xương chậu có thể tham gia.

Giai đoạn IV. Ung thư là nghiêm trọng nhất và có nghĩa là ung thư đã lan qua vùng xương chậu và có thể ảnh hưởng đến bàng quang, trực tràng và nhiều phần xa của cơ thể.

Phương pháp điều trị và thuốc

Phẫu thuật là điều trị phổ biến nhất cho ung thư nội mạc tử cung. Hầu hết các bác sĩ khuyên hoặc là phẫu thuật cắt bỏ tử cung, nhiều khả năng các phẫu thuật cắt bỏ tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng. Các hạch bạch huyết ở khu vực này cũng cần được loại bỏ trong quá trình phẫu thuật cùng với các mẫu mô khác.

Cắt bỏ tử cung là một hoạt động lớn, bởi vì không thể có thai sau khi tử cung đã được gỡ bỏ, nó có thể là một quyết định khó khăn đối với một số phụ nữ. Tuy nhiên, phẫu thuật thường là cách duy nhất để loại trừ ung thư hoặc cần thiết phải điều trị thêm.

Nếu có một hình thức tích cực của bệnh ung thư nội mạc tử cung hoặc ung thư đã lan đến các bộ phận khác của cơ thể, có thể cần điều trị bổ sung. Đây có thể bao gồm:

Bức xạ. Nếu bác sĩ tin rằng đang có nguy cơ cao tái phát ung thư, người đó có thể gợi ý rằng xạ trị sau khi phẫu thuật. Bác sĩ cũng có thể đề nghị xạ trị khối u ung thư nếu phát triển nhanh, xâm nhập sâu vào cơ bắp của tử cung hoặc liên quan đến mạch máu. Xạ trị liên quan đến việc sử dụng liều cao tia X để diệt các tế bào ung thư. Khi thực hiện từ bên ngoài cơ thể, nó được gọi là tia bức xạ trị liệu bên ngoài. Brachytheraphy là một dạng khác của bức xạ có liên quan đến ứng dụng nội bộ của bức xạ, thường là để các lớp lót bên trong của tử cung. Brachytheraphy có tác dụng phụ ít hơn so với xạ trị thông thường. Tuy nhiên, brachytheraphy xử lý chỉ là một khu vực nhỏ của cơ thể.

Hormone liệu pháp. Nếu ung thư đã lan ra các phần khác của cơ thể, tổng hợp progestin, một dạng của progesterone hormone, có thể ngăn chặn nó phát triển. Các progestin được sử dụng trong điều trị ung thư nội mạc tử cung được quản lý ở liều cao hơn được sử dụng trong liệu pháp thay thế hormone cho phụ nữ mãn kinh. Các thuốc khác có thể được sử dụng. Điều trị với progestin có thể là một lựa chọn cho phụ nữ bị ung thư nội mạc tử cung sớm, những người muốn có con và do đó không muốn cắt bỏ tử cung. Tuy nhiên, phương pháp này là không phải không có nguy cơ ung thư sẽ trở lại. Cẩn thận thảo luận về điều trị này với một chuyên gia trong lĩnh vực này.

Một tùy chọn khác là liệu pháp hormone gonadotropin-releasing hormone agonist. Các thuốc này có thể hạ thấp mức estrogen ở phụ nữ tiền mãn kinh.

Hóa trị. Hóa trị là sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Thông thường, các loại thuốc hóa trị được sử dụng kết hợp để tăng hiệu quả của họ. Nói chung, phụ nữ có giai đoạn III hoặc ung thư nội mạc tử cung giai đoạn IV sẽ được hóa trị như là một phần của phác đồ điều trị của họ. Có thể nhận được thuốc hóa trị bằng thuốc (uống) hoặc thông qua các tĩnh mạch. Các thuốc này nhập vào máu và sau đó đi qua cơ thể, làm chết tế bào ung thư bên ngoài tử cung.

Mỗi loại điều trị ung thư nội mạc tử cung có thể có tác dụng phụ. Hãy hỏi bác sĩ những tác dụng phụ có thể và những gì có thể được thực hiện để quản lý chúng.

Nếu có giai đoạn cuối hoặc ung thư nội mạc tử cung, có thể hưởng lợi từ tham gia vào thử nghiệm lâm sàng cung cấp các lựa chọn điều trị mới thực nghiệm.

Sau khi điều trị ung thư nội mạc tử cung, bác sĩ có thể sẽ khuyên nên thường xuyên theo dõi kiểm tra để xác định liệu ung thư đã trở lại. Kiểm tra có thể bao gồm lâm sàng, kiểm tra vùng chậu, thử nghiệm Pap, X – quang ngực và các xét nghiệm.

Đối phó và hỗ trợ

Sau khi nhận được một chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung, có thể có nhiều câu hỏi, nỗi sợ hãi và lo lắng. Chẩn đoán sẽ hưởng đến gia đình, công việc và tương lai ? Có thể lo lắng về các xét nghiệm, điều trị, nằm viện và hóa đơn y tế. Ngay cả khi bình phục hoàn toàn có thể, có thể lo lắng về khả năng tái phát của bệnh ung thư.

May mắn thay, nhiều nguồn tài nguyên có sẵn cho bản thân và gia đình để giúp trả lời câu hỏi và hỗ trợ. Điều quan trọng là phải nhớ rằng không phải đối mặt với câu hỏi hoặc nỗi sợ hãi một mình. Dưới đây là một số chiến lược và các nguồn lực có thể làm việc với bệnh ung thư nội mạc tử cung dễ dàng hơn:

Biết những gì mong đợi. Tìm hiểu tất cả mọi thứ có thể về bệnh ung thư, lựa chọn điều trị và ảnh hưởng của chúng. Điều quan trọng để có trung thực, các cuộc thảo luận mở với nhóm chăm sóc bệnh ung thư. Càng biết, càng có nhiều hoạt động có thể được trong việc tự chăm sóc. Ngoài việc nói chuyện với bác sĩ, tìm kiếm thông tin tại thư viện địa phương và trên Internet. Nhân viên của Viện Ung thư Quốc gia sẽ trả lời câu hỏi từ công chúng.

Hãy chủ động. Mặc dù có thể cảm thấy mệt mỏi và chán nản, không yêu cầu người khác, kể cả gia đình và bác sĩ để đưa ra quyết định quan trọng đối với bản thân. Tham dự một vai trò tích cực trong điều trị. Trước khi bắt đầu điều trị, có thể muốn có một ý kiến thứ hai từ một chuyên gia có trình độ.

Duy trì một hệ thống hỗ trợ mạnh mẽ. Mối quan hệ mạnh có thể giúp đối phó với bệnh ung thư điều trị và tồn tại. Mặc dù bạn bè và gia đình có thể đồng minh tốt nhất, đôi khi họ có thể có vấn đề đối phó với bệnh tật. Nếu vậy, mối quan tâm và hiểu biết của một nhóm hỗ trợ chính thức hoặc những người sống sót ung thư khác có thể đặc biệt hữu ích. Hãy hỏi bác sĩ để giúp liên lạc với một nhóm hỗ trợ trong khu vực.

Phòng chống

Mặc dù hầu hết các trường hợp ung thư nội mạc tử cung không ngăn ngừa được, yếu tố nào đó có thể giảm nguy cơ phát triển bệnh. Chúng bao gồm:

Điều trị hormone (HT) với progestin. Estrogen kích thích sự tăng trưởng của nội mạc tử cung. Thay thế estrogen sau khi mãn kinh có thể làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Lấy progestin tổng hợp, một hình thức của các hormone progesterone với estrogen làm cho niêm mạc tử cung. Loại hormone trị liệu kết hợp làm giảm nguy cơ. Nhưng không phải tất cả các ảnh hưởng của HT là tích cực. Lấy HT như là một liệu pháp kết hợp có thể gây tác dụng phụ nghiêm trọng và nguy cơ sức khỏe, chẳng hạn như là một nguy cơ cao của bệnh ung thư vú và cục máu đông. Làm việc với bác sĩ để đánh giá các lựa chọn và quyết định những gì tốt nhất.

Một lịch sử của việc sử dụng thuốc tránh thai. Sử dụng thuốc ngừa thai uống có thể làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, ngay cả khi 10 năm sau khi ngừng thuốc. Rủi ro là thấp nhất ở những phụ nữ mang thai uống nhiều năm.

Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Béo phì là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất cho sự phát triển của bệnh ung thư nội mạc tử cung. Có thể giúp ngăn ngừa ung thư nội mạc tử cung bằng cách duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Các mô chất béo dư thừa có thể làm tăng mức độ estrogen trong cơ thể, làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh khi có tuổi làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung cũng như các bệnh khác.

Tập thể dục. Thường xuyên tập thể dục có thể có một ảnh hưởng rất lớn về nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Những phụ nữ tham gia vào tập thể dục mỗi ngày có một nửa nguy cơ ung thư nội mạc tử cung so với những phụ nữ không tập thể dục, theo Hiệp hội Ung thư Mỹ.

 

UNG THƯ BUỒNG TRỨNG

By on 19/04/2016

Ung thư buồng trứng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do các bệnh lý ác tính tại các nước phát triển. Đây là loại ung thư gây tử vong đứng hàng thứ 4 tại Anh và thứ 5 tại Mỹ. Tại châu Á, ung thư buồng trứng là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng hàng thứ 5 tại Singapore và thứ 6 tại Hồng Kông. Triệu chứng thường mơ hồ như khó chịu hoặc chướng bụng, vì vậy hầu hết các trường hợp được phát hiện khi bệnh đã tiến triển. Việc chẩn đoán muộn có thể là nguyên nhân chính góp phần làm cho tiên lượng chung xấu. Tỷ lệ sống sau 5 năm nếu bệnh được phát hiện ở giai đoạn I là 85% và giảm hẳn xuống 15-30% nếu phát hiện ở giai đoạn III và IV. Do đó, tầm soát ung thư buồng trứng được đề ra nhằm chẩn đoán sớm bệnh và cải thiện kết cục chung. Chúng ta sẽ bàn tới:

  1. Những khó khăn gặp phải khi tầm soát ung thư buồng trứng
  2. Phương pháp tầm soát
  3. Dữ liệu cập nhật từ các thử nghiệm ngẫu nhiên
  4. Hướng đi trong tương lai

KHÓ KHĂN TRONG TẦM SOÁT UNG THƯ BUỒNG TRỨNG

Mặc dù ung thư buồng trứng là căn bệnh đáp ứng các tiêu chí có thể áp dụng tầm soát của Tổ chức Y tế thế giới, tuy nhiên vẫn có một số vấn đề khó khăn. Không giống như ung thư cổ tử cung, ung thư buồng trứng dường như thuộc một dạng ung thư khác, không có những tổn thương tiền ung và tỷ lệ tiến triển cũng rất khác biệt. Điều này gây khó khăn cho việc tìm kiếm một biện pháp sàng lọc hiệu quả để phát hiện sớm bệnh và cải thiện tỷ lệ sống.

Bên cạnh đó, không giống như sàng lọc ung thư cổ tử cung trong đó các trường hợp phết tế bào nghi ngờ có thể được đánh giá lại sau đó bằng khoét chóp và sinh thiết; và các tổn thương tiền ung thư, như tân sinh trong biểu mô cổ tử cung có thể được điều trị bằng một thủ thuật nhỏ như khoét chóp lấy đi vùng chuyển tiếp, trong khi đó, một trường hợp nghi ngờ ung thư buồng trứng qua sàng lọc có thể sẽ dẫn tới những can thiệp xâm lấn như nội soi chẩn đoán và chỉ định cắt phần phụ 2 bên với những nguy cơ phẫu thuật tiềm ẩn. Vì vậy, phải tìm kiếm một phương pháp sàng lọc có độ đặc hiệu cao. Một biện pháp sàng lọc với độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 99,6% vẫn dẫn đến việc phẫu thuật không cần thiết cho 10 phụ nữ trên mỗi trường hợp ung thư thực sự được phát hiện.

buong-trung-1808-1399912921

CÁC PHƯƠNG PHÁP SÀNG LỌC CÓ THỂ ÁP DỤNG

CA 125

Bất kể những khó khăn kể trên, người ta vẫn đang nghiên cứu các phương pháp sàng lọc ung thư buồng trứng suốt 10-15 năm qua. Hầu hết các biện pháp sàng lọc bao gồm định lượng CA 125 huyết thanh và/hoặc siêu âm ngả âm đạo để đánh giá buồng trứng. CA 125 là kháng nguyên trên một loại glycoprotein trọng lượng phân tử cao nhận dạng bởi kháng thể đơn dòng OC 125, được sản xuất ra để chống lại các tế bào ung thư tuyến bọc dịch trong. Nó được biểu hiện trên các mô có nguồn gốc ngoại bì phôi (coelomic epithelium). Ngoài ung thư buồng trứng, CA 125 cũng được biểu hiện trên tế bào có nguồn gốc trung bì phôi như phúc mạc, màng ngoài tim và màng phổi. CA 125 tăng lên ở 80% trường hợp ung thư buồng trứng tiến triển nhưng chỉ tăng lên trong 50% trường hợp ung thư sớm. Vì CA 125 cũng biểu hiện trên các mô khác có nguồn gốc ngoại bì phôi, chất chỉ thị này cũng tăng lên trong các bệnh lý phụ khoa lành tính hoặc các bệnh lý không phải phụ khoa ngoài lạc nội mạc tử cung, u xơ tử cung như viêm phúc mạc và viêm ruột thừa. Do đó, chỉ sử dụng CA 125 đơn độc sẽ không đủ độ nhạy và độ đặc hiệu. Nên đánh giá nguy cơ ung thư buồng trứng theo CA 125 với thuật toán cụ thể đánh giá theo tiến triển bệnh và độ tuổi hơn là chỉ dùng một chỉ số cut-off đơn độc.

Siêu âm qua ngả âm đạo

Siêu âm ngả âm đạo đơn độc bị hạn chế bởi khả năng tiên đoán dương thấp. Siêu âm có thể phát hiện bất thường kích thước và hình dạng buồng trứng nhưng không phân biệt được tổn thương lành tính hay ác tính. Người ta thấy rằng siêu âm ngả âm đạo có độ nhạy cao hơn nhưng độ đặc hiệu thấp hơn CA 125. Giá trị tiên đoán dương chỉ là 9,3% trong 14.469 phụ nữ không triệu chứng trên 50 tuổi. Nhược điểm này có thể cải thiện bằng siêu âm Doppler và đo đầy đủ các chỉ số về hình dạng buồng trứng, nhưng kết quả còn thay đổi nhiều tùy thuộc vào người thực hiện siêu âm.

Siêu âm ngả âm đạo kết hợp CA 125

Kết hợp siêu âm ngả âm đạo và CA 125 có thể cải thiện kết quả so với thực hiện đơn độc từng phương pháp. Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng kết hợp CA 125 cut-off 30 U/ml và siêu âm ngả âm đạo được công bố năm 1999. Có tổng cộng 21.935 phụ nữ mãn kinh được phân bố ngẫu nhiên vào 2 nhóm: nhóm được thực hiện tầm soát 3 lần trong 3 năm bằng CA 125 và siêu âm ngả âm đạo nếu có sự gia tăng CA 125 và nhóm chứng không thực hiện tầm soát. Các phụ nữ này được theo dõi trong 7 năm. Có 16 trường hợp ung thư buồng trứng ở nhóm được tầm soát và 20 trường hợp ở nhóm không tầm soát. Thời gian sống trung bình ở nhóm được tầm soát cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng (73 tháng so với 42 tháng; P = 0,011). Tuy nhiên thử nghiệm này chưa đủ mạnh để cho thấy sự khác biệt trong tỷ lệ tử vong. Thử nghiệm này tạo cơ sở cho những thử nghiệm ngẫu nhiên lớn hơn tiếp theo.

 CẬP NHẬT DỮ LIỆU TỪ CÁC THỬ NGHIỆM NGẪU NHIÊN LỚN

Trong một thử nghiệm sàng lọc ung thư tiền liệt tuyến, phổi, đại trực tràng và buồng trứng từ năm 1993 đến 2001, có 34.261 đối tượng nghiên cứu là phụ nữ từ 10 trung tâm sàng lọc tại Mỹ được chọn ngẫu nhiên vào nhóm sàng lọc và nhóm chứng. Nhóm sàng lọc được xét nghiệm CA 125 và siêu âm ngả âm đạo mỗi năm trong 4 năm cộng thêm 2 năm được xét nghiệm đơn thuần CA 125 (mà không có siêu âm ngả âm đạo). Kết quả được công bố năm 2009. Có tổng cộng 89 trường hợp ung thư buồng trứng xâm lấn hoặc di căn vào phúc mạc được chẩn đoán, trong đó 60 trường hợp được phát hiện qua sàng lọc. Nhìn chung có 19,5 phẫu thuật được tiến hành trên mỗi trường hợp ung thư được phát hiện; và mặc dù được sàng lọc, 72% các trường hợp ung thư được phát hiện vẫn ở giai đoạn muộn (III/IV). Dữ liệu tử vong còn đang được cập nhật. Siêu âm qua ngả âm đạo dẫn đến nhiều trường hợp can thiệp phẫu thuật không cần thiết nhưng lại giúp phát hiện được nhiều trường hợp ở giai đoạn sớm.

Một thử nghiệm tại Nhật trên phụ nữ mãn kinh không có triệu chứng cũng cho thấy tỷ lệ phẫu thuật cao. Trong nghiên cứu này, các phụ nữ được chia ngẫu nhiên vào 2 nhóm: nhóm có sàng lọc (n=41.688) và nhóm chứng (n=40.799) và được theo dõi trong 9,2 năm. Sàng lọc bao gồm siêu âm vùng chậu và xét nghiệm CA 125 huyết thanh hàng năm. Kết quả cho thấy có 33 phẫu thuật được thực hiện để phát hiện 1 trường hợp ung thư. Tỷ lệ ung thư buồng trứng giai đoạn sớm cao hơn trong nhóm được sàng lọc so với nhóm chứng (63% so với 38%) nhưng đủ ý nghĩa thống kê. Và một lần nữa, dữ liệu tử vong chưa được báo cáo.

Thử nghiệm tầm soát ung thư buồng trứng của Anh (UKCTOCS) là thử nghiệm ngẫu nhiên lớn nhất được cập nhật. Từ năm 2001 đến 2005, 202.638 phụ nữ mãn kinh được chia ngẫu nhiên vào 3 nhóm: nhóm chứng không được tầm soát (n=101.359), nhóm được tầm soát bằng siêu âm ngả âm đạo (n=50.639) và nhóm được tầm soát mỗi năm bằng CA 125 và sau đó bằng siêu âm ngả âm đạo (n=50.640). Kết quả phân tích của 2 nhóm sau được công bố năm 2009. Không có khác biệt có ý nghĩa về độ nhạy giữa 2 nhóm (89,5% và 75%) nhưng độ đặc hiệu thì có khác biệt có ý nghĩa (99,8% và 98,2%). Có 2,9 cuộc phẫu thuật được thực hiện trên mỗi trường hợp được phát hiện trong nhóm được sàng lọc bằng CA 125 và siêu âm so với 35,3 cuộc phẫu thuật trong nhóm chỉ được sàng lọc bằng siêu âm. 50% trường hợp ung thư được phát hiện là ở giai đoạn sớm. Tuy nhiên, câu hỏi quan trọng là liệu biện pháp sàng lọc như vậy có tác động gì trên tử suất hay không. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta vẫn phải chờ đợi đến khi thu thập đủ dữ liệu về tử suất ở nhóm chứng khi nghiên cứu kết thúc vào tháng 12 năm 2014.

UBT2

HƯỚNG PHÁT TRIỂN TƯƠNG LAI

Nhắm vào quần thể nguy cơ cao

Phụ nữ có tiền căn gia đình hay có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng về mặt di truyền là những người có nguy cơ cao và có thể nhận được nhiều lợi ích từ chương trình tầm soát tích cực. Phụ nữ có 1 người thân trong gia đình mắc ung thư buồng trứng có nguy cơ tương đối mắc ung thư buồng trứng tăng gấp 3,1 lần (khoảng tin cậy 95%, 2,2 – 4,4); nếu có 2 đến 3 người thân mắc ung thư buồng trứng, nguy cơ này tăng gấp 4,6 lần (độ tin cậy 95%, 1,1 – 18,4). Phụ nữ có tiền căn di truyền ung thư vú và ung thư buồng trứng có nguy cơ đáng kể phát triển ung thư buồng trứng. Người mang đột biến BRCA1 có nguy cơ trong suốt cuộc đời là 60% trong khi đó nguy cơ này ở người mang đột biến BRCA2 thấp hơn: 15-25%. Trong nhóm phụ nữ có tỷ lệ mắc ung thư buồng trứng cao, xét nghiệm tầm soát không cần phải thật đặc hiệu để đạt được giá trị tiên đoán dương tương đương. Do vậy, các phương pháp tầm soát dường như ít hiệu quả ở nhóm dân số có nguy cơ thấp có thể có hiệu quả tốt hơn ở nhóm dân số này. Các tác giả cũng cho rằng các kỹ thuật hiện nay (CA 125 và siêu âm ngả âm đạo) có giá trị tiên đoán dương có thể chấp nhận được nhưng tầm soát mỗi năm không phát hiện được tất cả các trường hợp ung thư ở giai đoạn sớm và khả năng mắc ung thư trong vòng 12 tháng sau tầm soát vẫn xảy ra. Những vấn đề này được đặt ra trong nghiên cứu tầm soát ung thư buồng trứng đang tiến hành tại Anh (UKFOCSS) trong đó người ta kết hợp sàng lọc bằng siêu âm ngả âm đạo với xét nghiệm CA 125 nhiều lần liên tiếp (kết quả được tính toán và đánh giá bằng thuật toán riêng).

Các chất đánh dấu mới

Ngoài CA 125, một số chất đánh dấu khác đã được xác định trong ung thư buồng trứng. HE4 là một trong những chất đánh dấu mới đầy hứa hẹn. Người ta thấy rằng, chất này có mặt trong 32% trường hợp ung thư buồng trứng không có gia tăng CA 125. Sự kết hợp HE4 và CA 125 có thể giúp chẩn đoán phân biệt u buồng trứng ác tính với u buồng trứng lành tính và HE4 tỏ ra là xét nghiệm sàng lọc đầu tay tốt hơn CA 125 nhờ vào độ nhạy cao. Cần thêm nhiều nghiên cứu để đánh giá liệu biện pháp sàng lọc bao gồm siêu âm ngả âm đạo và hệ số kết hợp giữa CA 125 và HE4 có giúp cải thiện hiệu quả tầm soát hay không. Hiện nay có nhiều chất đánh dấu được xác định (ví dụ như M-CSF, OVX1, LPA, CA 72–4, prostasin, osteopontin) nhưng chưa có chất nào khi được xét nghiệm đơn độc mang lại hiệu quả cao hơn xét nghiệm CA 125 đơn độc. Một phân tích định lượng đối với 6 chất đánh dấu kết hợp cho thấy độ nhạy là 95,3% và độ đặc hiệu là 99,4%. Tương tự như vậy, kỹ thuật phân tích hệ protein có thể giúp xác định ung thư buồng trứng với độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 95%. Để đánh giá hiệu quả của kỹ thuật này cũng như các chất đánh dấu mới trên lâm sàng, chúng ta cần tiến hành nhiều thử nghiệm ngẫu nhiên lớn.

MỘT SỐ ĐIỂM QUAN TRỌNG

  • Chưa có chiến lược tầm soát lý tưởng đối với ung thư buồng trứng, vì vậy chưa có khuyến cáo tầm soát thường quy.
  • CA 125 chỉ tăng trong 50% trường hợp ung thư giai đoạn sớm và cũng tăng trong một số bệnh lý lành tính. Vì vậy, xét nghiệm CA 125 đơn độc để sàng lọc không đủ độ nhạy và độ đặc hiệu.
  • Siêu âm ngả âm đạo có thể hiệu quả trong việc phát hiện u buồng trứng nhưng không thể xác định chính xác bản chất của u. Sàng lọc bằng siêu âm đơn thuần sẽ dẫn đến nhiều trường hợp can thiệp không cần thiết.
  • Sự kết hợp siêu âm ngả âm đạo và xét nghiệm CA 125 liên tiếp là chiến lược tầm soát phổ biến nhất đã được đánh giá trong nhiều thử nghiệm ngẫu nhiên lớn.
  • Kết hợp CA 125 và siêu âm ngả âm đạo có thể làm giảm số lượng các trường hợp phẫu thuật không cần thiết.
  • Dữ liệu hiện nay từ các thử nghiệm ngẫu nhiên lớn cho thấy xu hướng có thể chẩn đoán sớm ung thư buồng trứng, tuy nhiên cần nhiều hơn những dữ liệu đánh giá hiệu quả của việc này đối với tử suất chung.

KẾT LUẬN

Việc tìm ra chiến lược tầm soát thích hợp đối với ung thư buồng trứng còn là thử thách. Cải tiến những phương thức sàng lọc hiện tại kết hợp với xét nghiệm các chất đánh dấu mới và kỹ thuật phân tích hệ protein có thể giúp mang lại hiệu quả hơn cho các biện pháp sàng lọc. Các quần thể dân số có nguy cơ khác nhau cần chiến lược sàng lọc khác nhau. Ung thư buồng trứng là nhóm bệnh không đồng nhất. Các phương pháp sàng lọc hiện tại dựa trên giả thuyết căn bệnh này xuất phát từ buồng trứng, tiến triển từ từ từ giai đoạn sớm đến giai đoạn muộn và tầm soát có thể giúp phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, từ đó giảm tỷ lệ tử vong. Tuy nhiên, có một tỷ lệ lớn u buồng trứng ác tính một khi xuất hiện là đã ở giai đoạn muộn, đã tiến triển nhiều, đây chính là nhóm bệnh mà các biện pháp sàng lọc hiện tại không thể phát hiện.

Việc nhắm vào sự khác nhau trong cơ chế tiến triển thành ác tính của các loại u có đặc điểm sinh học khác nhau có thể giúp mở ra nhiều hướng mới, như các phương pháp dựa trên chất đánh dấu di truyền phân tử, điều này sẽ giúp giảm tỷ lệ tử vong do căn bệnh này gây ra.

Cuối cùng, kết quả từ những thử nghiệm ngẫu nhiên lớn vẫn chưa cho thấy rằng các phương pháp sàng lọc hiện tại có thể giúp phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, đồng thời dữ liệu về tử suất từ những nghiên cứu này vẫn chưa có. Dựa trên những bằng chứng hiện tại, chưa thể khuyến cáo về việc tầm soát ung thư buồng trứng một cách thường quy ở phụ nữ chưa có triệu chứng.