X

Tính chỉ số BMI

Chiều cao: cm

Cân nặng : kg

Tính

Được thành lập từ ngày 1/10/2002, Phòng Khám Hoàng Gia HealthcareKhông Ngừng Phát Triển, Phấn đấu Trở Thành Phòng Khám Hàng Đầu Của Thành Phố Hồ Chí Minh Và Cả Nước. Chuyên Cung Cấp Tất Cả Các Dịnh Vụ Chăm Sóc Sức Khỏe Và Thẩm Mỹ Cho MẸ VÀ BÉ. Phòng Khám Hoàng Gia Sẽ Luôn Là Phòng Khám Tiên Phong Trong Tất Cả Các Lĩnh Vực Chăm Sóc Cho MẸ VÀ BÉ Như: Thẩm Mỹ Phụ Khoa- Hiếm Muộn- Vô Sinh- Phụ Sản- Nhũ Hoa – Tầm Soát Ung Thư -Lãnh Cảm Phụ Nữ Sau Sanh- Khám Vô sinh Nam- Khám Nhi khoa Khoa Khám Nhi Phòng Khám Hoàng Gia Do Nhóm Giảng Viên – Tiến Sĩ – Bác Sĩ Của Các Bệnh Viện Đại Học Y Dược – Từ Dũ – Hùng Vương Trực Tiếp Khám Và Điều Trị. Lấy Phương Châm Phục Vụ Khách Hàng Bằng Cả Trái Tim, Các Bác Sĩ Phòng Khám Cam Kết Đem Lại Sự Hài Lòng Cho Khách Hàng.

Thẩm Mỹ

DỰ PHÒNG SẸO LỒI SAU SINH

By on 25/05/2016

Làm sao để tránh sẹo lồi sau sinh mổ

Sẹo sinh mổ là một nỗi lo lớn với các sản phụ trước và sau sinh mổ. Rất nhiều chị em đã phải sống cùng vết sẹo lồi sau sinh mổ trong cả cuộc đời… Vậy làm thế nào để giúp vết khâu sau sinh mổ nhanh lành, không nhiễm trùng và hạn chế để lại sẹo lồi trên da?

vet mo sinh2

Nguyên nhân xuất hiện sẹo lồi sau sinh mổ

Bản chất sẹo lồi là do sự tăng sinh quá mức, kể cả về số lượng lẫn trật tự, của các mô sợi trong lớp bì. Sẹo lồi thường không gây cảm giác khó chịu ngoại trừ vấn đề thẩm mỹ. Tuy nhiên, một số sẹo lồi có thể gây ngứa, hơi đau hoặc cảm giác căng cứng. Đó là khi những vết sẹo này chưa ổn định, tình trạng lồi của sẹo đang diễn tiến ngày càng nhiều hơn.

  • Nhiễm khuẩn

Nhiễm khuẩn vết thương sẽ làm tăng khả năng để lại sẹo bất thường. Việc nhiễm khuẩn xảy ra có thể do chăm sóc vết khâu mổ sau sinh không đúng cách hoặc do nguyên tắc vô trùng trong phẫu thuật không được tuân thủ đúng.

  • Các dị vật rơi vào vết thương

Bụi, sợi và nang lông, tuyến bã nhờn, tuyến mồ hôi có thể gây ra phản ứng trên vết mổ sinh, dẫn đến vết mổ lành không tốt tạo sẹo xấu, sẹo lồi, sẹo phì đại.

  • Da bị căng

Vết sẹo của đường mổ ngang vùng bụng dưới thường lành tốt và ít để lại sẹo hơn so với sẹo của đường mổ dọc thành bụng. Vùng da ở vết mổ dọc thành bụng hay bị căng hơn so với vùng da vết mổ ngang trên vệ. Do đó để đảm bảo thẩm mỹ, khi sinh mổ, các bác sĩ thường chọn đường mổ ngang bụng dưới sẽ tốt hơn so với mổ dọc thành bụng.

  • Sắc tố da

Các tế bào sắc tố cũng có khả năng ảnh hưởng đến việc bị sẹo lồi. Tỷ lệ người da đen mắc sẹo lồi cao gấp 9 lần người da trắng.

  • Tuổi tác

Những người trẻ, đặc biệt là từ 10-20 có tỷ lệ mắc sẹo lồi cao nhất. Nguyên nhân chủ yếu là do tuổi dậy thì, các cơ quan phát triển mạnh mẽ, phản ứng sau chấn thương cũng mạnh mẽ hơn. Có thể nói quá trình liền da của người lớn tuổi tuy mất thời gian lâu hơn nhưng người trẻ, nhưng ít hay bị sẹo lồi hơn.

  • Không kiêng cữ sau sinh:

Việc không kiêng cữ sau sinh không đúng cách cũng là nguyên nhân hình thành sẹo lồi ở sản phụ. Một số thực phẩm kích thích sự tái tạo mô mới quá mức làm hình thành sẹo lồi như: thịt bò, rau muống, đồ nếp, hải sản…

Làm sao để tránh sẹo lồi sau sinh mổ

  • Vệ sinh vết mổ

Vết mổ sinh thường được xếp vào nhóm vết mổ vô khuẩn nên không cần thiết vệ sinh và thay băng hằng ngày. Tuy nhiên, một số trường hợp mổ sinh vì nhiễm trùng ối, chuyển dạ kéo dài, ối vỡ lâu… nguy cơ nhiễm trùng vết mổ cao. Khi đó, việc thay băng và vệ sinh vết mổ mỗi khi băng vết mổ bị ướt bằng nước muối sinh lý hoặc dung dịch sát khuẩn như Povidone sẽ giúp vết mổ không bị nhiễm trùng và đây cũng là cách hạn chế sẹo lồi sau sinh đầu tiên.

 

  • Dinh dưỡng

Sản phụ cần tuyệt đối không ăn các thức ăn có vị cay, nóng như tỏi, hành tây, ớt…, những thức ăn dễ gây dị ứng như hải sản, cá ngừ…vì nó cũng là nguyên nhân gây sẹo lồi. Không nên ăn quá nhiều trứng nhưng sản phụ không cần kiêng tới mức không được ăn trứng vì đây là thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, lành tính cho mẹ mới sinh con.

Ăn nhiều rau muống sẽ làm tăng quá trình hình thành tế bào sợi gây sẹo lồi ở vết mổ. Vì vậy, thay vì ăn rau muống sản phụ có thể thay bằng các loại rau khác như rau ngót, rau diếp, các loại củ quả có tính mát khác…

Để tránh sẹo lồi sau sinh mổ, sản phụ nên hạn chế ăn hải sản vì hải sản dễ khiến sản phụ bị dị ứng. Có thể trước đó sản phụ không bị dị ứng vì bất kì loại hải sản nào nhưng sau khi mổ sinh, cơ thể yếu, sức đề kháng thấp và lúc này hải sản sẽ gây cho bạn cảm giác ngứa ngáy khó chịu.

ĐẶT LỊCH KHÁM VÀ TƯ VÂN TẠI:

Book

LIỆU PHÁP NỘI TIẾT ĐIỀU TRỊ VIÊM TEO ÂM ĐẠO MÃN KINH

By on 25/05/2016

Viêm teo âm đạo – Vì đâu nên nỗi?

Viêm teo âm đạo cũng có thể xảy ra ở phụ nữ sau sinh bởi nồng độ estrogen thời điểm này rất thấp, may mắn là tình trạng này chỉ mang tính chất tạm thời và ít nghiêm trọng.

Nguyên nhân phổ biến nhất của tình trạng này là sự suy giảm nội tiết tố nữ estrogen sau mãn kinh. Buồng trứng tiết ra hormone estrogen cho tới khi phụ nữ bước vào tuổi mãn kinh (khoảng 45 – 55 tuổi). Sự suy giảm này khiến cho các mô trong âm đạo trở nên khô, mỏng và teo tóp.

Thuốc hoặc kích thích tố được sử dụng để làm giảm nồng độ estrogen (dùng trong điều trị bệnh ung thư vú, lạc nội mạc tử cung, u xơ tử cung hoặc vô sinh…) cũng là nguyên nhân của viêm teo âm đạo. Âm đạo có thể bị kích thích bởi xà phòng, nước rửa, nước hoa, bằng vệ sinh hoặc bao cao su… Ngoài ra, liệu pháp xạ trị hoặc hóa trị vùng chậu, một số loại thuốc, phẫu thuật cắt buồng trứng, stress, trầm cảm hoặc tập thể dục nặng cũng có thể dẫn đến tình trạng này.

Triệu chứng không rõ ràng

Mọi phụ nữ đều có thể gặp một hoặc nhiều triệu chứng của viêm teo âm đạo, bao gồm: Khô âm đạo, đau, ngứa âm đạo, giao hợp đau, môi âm hộ và âm đạo nhạt màu hơn và mỏng hơn, bị kích ứng khi mặc quần bó và dễ mắc các nhiễm trùng đường tiết niệu. Trong trường hợp vùng sinh dục bị viêm nhiễm, có thể có chất dịch màu trắng kèm theo mùi hôi.

Những bất ổn đường tiết niệu bao gồm đi tiểu thường xuyên hơn, khi đi tiểu bị đau, ra máu hoặc đi tiểu không tự chủ… Tuy nhiên, các biểu hiện này rất dễ nhầm lẫn với một số nhiễm trùng khác.

Phương pháp điều trị

Để điều trị hiệu quả viêm teo âm đạo, cần xác định nguyên nhân là do suy giảm estrogen, nhiễm trùng, bị kích thích hay nguyên nhân khác.

Các triệu chứng nhẹ có thể thuyên giảm nếu sử dụng chất bôi trơn âm đạo hòa tan trong nước khi giao hợp. Tuyệt đối không sử dụng dầu bôi trơn, dầu khoáng,… bởi chúng sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng.

Bổ sung estrogen trước khi tình trạng trở nên trầm trọng là rất cần thiết, chị em có thể dùng liệu pháp hormone thay thế (HRT). Tuy nhiên, HRT là con dao hai lưỡi bởi có thể mang đến những rủi ro nếu sử dụng dài hạn. Không nên dùng HRT khi bạn đang có thai, bị chảy máu âm đạo, bị ung thư vú, có bệnh về gan và có tiền sử huyết khối.

Ngoài ra, tập các bài thể dục nhẹ nhàng, massage hoặc thiền cũng là những biện pháp giúp lưu thông máu đến âm đạo. Thay vì HRT, bạn có thể bổ sung estrogen thông qua thực phẩm chức năng có chứa isoflavones (oestrogen thực vật có trong đậu nành), chiết xuất hạt lanh, dầu cá và thăng ma đen (black cohosh).

Nhiều chị em ngại “gần gũi” với chồng khi bị viêm teo âm đạo, tuy nhiên, việc tăng cường quan hệ tình dục còn kích thích tiết chất nhờn, cải thiện tình trạng khô hạn. Khảo sát cho thấy tỷ lệ teo và khô âm đạo cao hơn ở nhóm phụ nữ ít quan hệ tình dục.

nguồn :http://healthplus.vn/

ĐẶT LỊCH KHÁM VÀ TƯ VẤN:

Book

TẠO HÌNH DỊ TẬT ĐƯỜNG SINH DỤC

By on 25/05/2016
Dị tật ở cơ quan sinh dục nữ là những bất thường về cấu trúc của cơ quan sinh dục. Do thiếu hiểu biết hoặc do xấu hổ nên nhiều người không chịu đi khám khiến cho việc điều trị, phẫu thuật tạo hình càng khó khăn, ít mang lại hiệu quả. Một số dị tật khi phát hiện sớm, điều trị kịp thời sẽ không ảnh hưởng đến chức năng sinh sản.

Dính môi sinh dục: Bình thường thì hai môi bé tách biệt nhau tạo ra khoảng trống ở giữa. Dính âm môi hay dính môi bé là hiện tượng hai môi bé bộ phận sinh dục nữ dính lại với nhau chỉ còn một khoảng trống nhỏ, một số trường hợp hầu như bịt kín. Trường hợp dính ít, đôi khi làm trẻ tiểu không hết, lượng nước tiểu còn lại gây ướt quần gây nhầm lẫn trẻ gái hay tiểu dầm hay tiểu không kiểm soát. Thậm chí có trẻ do viêm nhiễm thường xuyên và người nhà tự ý bôi nhiều loại kem khác nhau dẫn đến nhiễm nấm vùng âm hộ rất khó chữa.

di-tat-sinh-duc-nu-1400726403200
Ảnh minh họa

Hai môi bé bị dính nhau ở mép, toàn bộ hoặc bán phần. Trường hợp này có thể che khuất âm đạo, khiến bạn gái khó giao hợp hoặc không thể giao hợp, ảnh hưởng đến việc sinh con.

Không có âm đạo: Có những bạn gái khi sinh ra đã không có âm đạo, tuy nhiên, vẫn có thể có tử cung và buồng trứng như bình thường. Trường hợp này, máu kinh cũng không thể thoát ra ngoài được nên bị đọng lại trong tử cung và tràn lên sừng tử cung.Những trường hợp này khó điều trị, phải phẫu thuật tạo hình âm đạo.Sau khi được điều trị, bạn gái có thể có quan hệ tình dục (giao hợp) và sinh con (nếu hoạt động của buồng trứng, tử cung hoàn toàn bình thường).

Âm đạo kép

Trường hợp này có 2 loại:

Vách ngăn ngang âm đạo: Trong âm đạo có vách ngăn ngang âm đạo, có thể nằm ở 1/3 trên hay 1/3 giữa. Nếu vách ngăn không thủng thì sẽ có biểu hiện giống như trường hợp màng trinh không thủng.Nếu vách ngăn có thủng thì chỉ phát hiện được khi quan hệ tình dục dương vật – âm đạo.

Vách ngăn dọc âm đạo: Thường có khoảng 20% trường hợp này đi kèm với dị dạng tử cung. Vách ngăn dọc âm đạo có thể hoàn toàn suốt dọc âm đạo hoặc chỉ một phần.Biểu hiện chủ yếu là đau khi giao hợp hoặc không giao hợp được.Ngoài ra, cả 2 trường hợp này còn có thể ảnh hưởng đến việc sinh con sau này.Chính vì vậy, nếu nghi ngờ có vách ngăn âm đạo cần đi kiểm tra, bác sĩ có thể phẫu thuật để tạo hình dạng bình thường cho âm đạo.

Teo âm đạo bẩm sinh: Khi mắc dị tật này ở một số bạn gái vẫn có đủ 2 buồng trứng, tử cung, vòi trứng hoàn chỉnh, nhưng chỉ có phần trên âm đạo, còn phần dưới bị teo lại và bít kín. Do vậy, khi đến tuổi dậy thì, máu kinh cũng không thể thoát ra bên ngoài được, khiến bạn gái thường hay bị đau bụng, bụng dưới ngày càng to ra do bị ứ máu kinh lâu ngày. Với những trường hợp này khi phát hiện cần đến cơ sở y tế chuyên khoa sản, các bác sĩ sẽ mở một đường âm đạo mới cho bạn gái.

Nguồn : suckhoedoisong.vn

ĐIỀU TRỊ SA SINH DỤC

By on 10/05/2016

1.    KHÁI NIỆM

  • Sa sinh dục là hiện tượng tử cung sa xuống thấp trong âm đạo hoặc sa hẳn ra ngoài âm hộ, thường kèm theo sa thành trước âm đạo và bàng quang hoặc thành sau âm đạo và trực tràng.
  • Sa sinh dục là một bệnh khá phổ biến ở phụ nữ Việt Nam, nhất là phụ nữ làm việc nặng, sinh đẻ nhiều, đẻ không an toàn, thường gặp trong lứa tuổi 40-50 tuổi trở lên. Người chưa đẻ lần nào cũng có thể sa sinh dục nhưng ít gặp hơn và chỉ sa cổ tử cung đơn thuần
  • Đây là bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, lao động

2.    CHẨN ĐOÁN

Lâm sàng

Đặc điểm của bệnh là tiến triển rất chậm có thể từ 5 đến 20 năm, và sau mỗi lần đẻ, lao động nặng trường diễn, sức khoẻ yếu, mức độ sa sinh dục lại tiến triển thêm.

  • Cơ năng:

Tuỳ thuộc từng người sa nhiều hay ít, sa lâu hay mới sa, sa đơn thuần hay phối hợp. Triệu chứng thường là khó chịu, nặng bụng dưới, tiểu rắt, són tiểu, tiểu không tự chủ, có khi đại tiện khó. Triệu chứng trên chỉ xuất hiện khi bệnh sa lâu, mức độ cao.

  • Thực thể

Khám thấy khối sa nằm ở ½ dưới âm đạo hoặc thập thò âm môn, trường hợp nặng nhất sẽ sa ra ngoài âm hộ, bao gồm thành trước âm đạo, cổ tử cung, thân tử cung, thành sau âm đạo. Phần khối sa ra ngoài có thể sừng hóa hoặc bị loét do cọ sát, bội nhiễm.

Cận lâm sàng

Xét nghiệm phiến đồ cổ tử cung: loại trừ tổn thương ác tính cổ tử cung. Thăm dò niệu động học: khảo sát tình trạng són tiểu.

Chẩn đoán xác định: chủ yếu dựa vào khám lâm sàng.

Phân loại thể, mức độ

Sa độ I:

  • Sa thành trước âm đạo (kèm theo sa bàng quang)
  • Sa thành sau ( kèm theo sa trực tràng)
  • Cổ tử cung ở thấp nhưng còn ở trong âm đạo, ngang với hai gai toạ, chưa nhìn thấy ở ngoài âm hộ.

Sa độ II:

  • Sa thành trước âm đạo (kèm theo sa bàng quang )
  • Sa thành sau âm đạo (kèm theo sa trực tràng)
  • Cổ tử cung thập thò âm hộ

Sa độ III :

  • Sa thành trước âm đạo (kèm theo sa bàng quang)
  • Sa thành sau âm đạo (kèm theo sa trực tràng)
  • Tử cung sa hẳn ra ngoài âm hộ
  • Hệ thống phân độ Pelvic Organ Prolapse Quantification (POP-Q)

Năm 1996, Hiệp hội quốc tế đưa ra hệ thống phân độ Pelvic Organ Prolapse Quantification (POP-Q) (Bump, 1996) dựa trên 6 điểm mốc ở âm hộ, âm đạo và cổ tử cung. Dựa trên hệ thống POP-Q, sa sinh dục được chia thành 5 mức độ từ 0 đến IV.

Hiện nay hệ thống này được dùng khá phổ biến ở nhiều quốc gia.

Chẩn đoán phân biệt

  • Lộn tử
  • Cổ tử cung dài, phì đại đơn thuần ở những phụ nữ còn trẻ, chưa đẻ.
  • Polyp cổ tử cung
  • Khối u âm đạo

3.    ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc chung, mục tiêu điều trị

Điều trị hỗ trợ nhằm giảm nhẹ các phiền toái do tình trạng sa sinh dục gây ra hoặc điều trị triệt để bằng các phẫu thuật.

Điều trị cụ thể (nội khoa, ngoại khoa, hướng dẫn chuyển tuyến)

Điều trị nội khoa

Chỉ định: những người bệnh quá lớn tuổi, mắc các bệnh mãn tính, không có điều kiện phẫu thuật.Có 3 phương pháp:

  • Phục hồi chức năng, đặc biệt là ở tầng sinh môn: hướng dẫn các bài tập co cơ để phục hồi cơ nâng ở vùng đáy chậu. Phương pháp này có thể làm mất các triệu chứng cơ năng và lùi lại thời gian phẫu thuật. Nếu phải phẫu thuật, thì việc phục hồi trương lực cơ đáy chậu cũng làm hạn chế tái phát sau mổ.
  • Vòng nâng đặt trong âm đạo:
  • Estrogen (Ovestin, Colpotrophine): Có thể tác dụng tốt với một số trường hợp có triệu chứng cơ năng như đau bàng quang, giao hợp đau, có tác dụng tốt để chuẩn bị phẫu thuật.

Điều trị ngoại khoa

  • Có nhiều phương pháp phẫu thuật trong điều trị sa sinh dục. Mục đích phẫu thuật nhằm phục hồi hệ thống nâng đỡ tử cung, nâng bàng quang, làm lại thành trước, thành sau âm đạo, khâu cơ nâng hậu môn và tái tạo tầng sinh môn. Phẫu thuật sa sinh dục chủ yếu bằng đường âm đạo hơn là đường bụng. Ngoài cắt tử cung đơn thuần, nó còn tái tạo lại các thành âm đạo, vì vậy phẫu thuật trong sa sinh dục còn mang tính chất thẩm mỹ. Đây là ưu điểm chủ yếu mà phẫu thuật đường bụng không thể thực hiện được.
  • Các yếu tố có liên quan đến lựa chọn phương pháp phẫu thuật:

        + Tuổi và nhu cầu sinh đẻ sau khi phẫu thuật.

        + Khả năng sinh lý tình dục

        + Thể trạng chung của người bệnh

        + Mức độ sa sinh dục

       + Ảnh hưởng của sa sinh dục đến các cơ quan lân cận: tình trạng sa bàng quang, sa trực tràng; rối loạn tiểu tiện, đại tiện?.

        + Tình trạng âm đạo, cổ tử cung bình thường hay viêm nhiễm. Nếu có viêm cổ tử cung, âm đạo cần đặt thuốc và vệ sinh hàng ngày trước mổ.

        + Tử cung, hai phần phụ có u cục không?

        + Bụng có vết mổ cũ không ? Tiên lượng mức độ dính vùng tiểu khung ?

        + Điều kiện trang bị của cơ sở y tế và trình độ phẫu thuật viên.

– Phương pháp Manchester

Chỉ định chủ yếu cho phụ nữ còn trẻ, muốn có con và sa độ II. Phẫu thuật này cũng có thể áp dụng cho những người bệnh già sa sinh dục độ III mà không chịu được một cuộc phẫu thuật lớn.

– Các bước phẫu thuật chính:

     + Cắt cụt cổ tử cung.

     + Khâu ngắn dây chằng Mackenrodt

     + Khâu nâng bàng quang

     + Làm lại thành trước âm đạo.

     + Phục hồi cổ tử cung bằng các mũi khâu Sturmdorft.

     + Làm lại thành sau âm đạo

– Phương pháp Crossen

     + Chỉ định: sa sinh dục độ III.

     + Cũng như phẫu thuật Manchester, phẫu thuật Crossen chỉ được tiến hành khi cổ tử cung không bị viêm loét.

– Các bước phẫu thuật chính:

     + Cắt tử cung hoàn toàn theo đường âm đạo.

     + Buộc chéo các dây chằng Mackenrodt và dây chằng tròn bên kia để treo mỏm cắt khâu vào nhau thành cái võng chắc, chống sa ruột.

     + Khâu nâng bàng quang.

     + Làm lại thành trước âm đạo.

     + Khâu cơ năng hậu môn, làm lại thành sau âm đạo.

– Phẫu thuật làm bít âm đạo:

     + Phương pháp Lefort khâu bít âm đạotương đối đơn giản, áp dụng cho người già không còn quan hệ tình dục,cần được sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

Chỉ định: sa sinh dục độ II hoặc độ III, người bệnh già trên 60 tuổi, không còn quan hệ tình dục nữa, âm đạo cổ tử cung không viêm nhiễm,

– Phẫu thuật Ameline – Huguier:

Khâu treo tử cung vào mỏm nhô bằng một vạt da hay chất liệu tổng hợp, chỉ định cho những người bệnh trẻ bị sa sinh dục độ II, độ III.

– Phẫu thuật Shirodkar:

Làm ngắn dây chằng tử cung – cùng và đính nó vào eo trước tử cung, áp dụng cho phụ nữ trẻ, chưa sinh đẻ, bị sa sinh dục độ II.

  • Hướng dẫn chuyển tuyến
  • Người bệnh sa sinh dục cần được khám và xử trí bởi bác sĩ sản phụ khoa từ tuyến huyện trở lên. 
  • Người bệnh được chỉ định điều trị nội khoa có thể được theo dõi tại tuyến xã trở lên.

4.    TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG

Tiến triển

Y văn không có báo cáo về tình trạng tự thoái triển của sa sinh dục, tuy nhiên nếu mức độ sa không nặng thì sử dụng vòng nâng dài ngày có thể cải thiện đáng kể tình trạng sa. Do thường không có triệu chứng cơ năng, sa sinh dục chỉ được phát hiện khi có khối sa ra ngoài.

Biến chứng

  • Loét trợt cổ tử cung, viêm loét khối
  • Tiểu khó, són tiểu, nhiễm trùng đường tiểu
  • Đại tiện khó, táo bón.

5.    TIÊN LƯỢNG VÀ PHÒNG BỆNH

Tiên lượng

Sa sinh dục là bệnh hiếm khi gây nguy hiểm đến tính mạng, tuy nhiên gây ra nhiều phiền toái trong cuộc sống và làm giảm đáng kể chất lượng sống.

Phòng bệnh

  • Không nên đẻ nhiều, đẻ sớm, đẻ dày. Nên đẻ ở nhà hộ sinh hoặc cơ sở y tế đủ điều kiện
  • Không để chuyển dạ kéo dài, không rặn đẻ quá lâu. Thực hiện các thủ thuật phải đảm bảo đủ kiều kiện, đúng chỉ định và đúng kỹ thuật
  • Các tổn thường đường sinh dục phải được phục hồi đúng kỹ thuật
  • Sau đẻ không nên lao động quá sớm và quá nặng
  • Tránh tình trạng táo bón.
  • Cần phát hiện và điều trị sớm các bệnh mãn tính gây tăng áp lực ổ bụng thường xuyên (táo bón trường diễn, ho kéo dài…) là nguyên nhân dẫn đến sa sinh dục.